Mục lục bài viết

1. Tình hình và nhiệm vụ của cách mạng nước ta sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Phương 

Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954)

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954), Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc theo vĩ tuyến 17.

- Miền Bắc:

+ Ngày 10/10/1954, quân đội ta tiến vào tiếp quản Hà Nội. Đến ngày 1/1/1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân Thủ đô.

+ Tháng 5/1955, Pháp rút khỏi miền Bắc, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, đánh dấu sự hoàn thành cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

+ Tuy nhiên, miền Bắc phải đối mặt với hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề.

- Miền Nam:

+ Tháng 5/1956, Pháp rút khỏi miền Nam mà không thực hiện cuộc hiệp thương Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ.

+ Mỹ can thiệp vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và thực hiện âm mưu chia cắt đất nước, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ tại Đông Dương và Đông Nam Á.

Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng hai miền Bắc – Nam (1954 – 1975):

- Nhiệm vụ của miền Bắc: Miền Bắc sau khi được giải phóng cần nhanh chóng khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, biến miền Bắc thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

- Nhiệm vụ của miền Nam: Miền Nam còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, cần tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm thống nhất đất nước một cách hòa bình.

- Nhiệm vụ chung của hai miền: Đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà, tạo điều kiện để cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Vai trò của cách mạng hai miền Bắc – Nam (1954 – 1975):

- Miền Bắc: Là hậu phương vững chắc của cả nước, có vai trò quyết định đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam.

- Miền Nam: Là tiền tuyến, có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai.

- Mối quan hệ giữa hai miền: Cách mạng hai miền gắn bó và phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đây là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến.

Điểm độc đáo của cách mạng Việt Nam (1954 – 1975): Một Đảng duy nhất lãnh đạo một đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội khác nhau, nhưng thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược với mục tiêu chung là thống nhất đất nước và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

 

2. Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 - 1960)

2.1. Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954 – 1957)

a. Hoàn thành cải cách ruộng đất

Quá trình thực hiện:

- Từ tháng 4/1953 đến tháng 7/1954, miền Bắc đã thực hiện 1 đợt cải cách ruộng đất và 5 đợt giảm tô.

- Từ tháng 7/1954 đến đầu năm 1956, miền Bắc tiếp tục tiến hành 4 đợt cải cách ruộng đất và 6 đợt giảm tô.

Kết quả:

- Khoảng 81 vạn hecta ruộng đất, 10 vạn trâu bò và 1,8 triệu nông cụ bị tịch thu, trưng thu, trưng mua từ tay giai cấp địa chủ phong kiến để chia cho 2 triệu hộ nông dân.

- Nông dân miền Bắc phấn khởi nhận ruộng đất trong quá trình cải cách ruộng đất.

Ý nghĩa:

- Khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực.

- Bộ mặt nông thôn miền Bắc thay đổi rõ rệt, giai cấp địa chủ phong kiến bị đánh đổ, giai cấp nông dân được giải phóng, và khối liên minh công – nông được củng cố mạnh mẽ.

- Cải cách ruộng đất góp phần tích cực vào nhiệm vụ khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh.

b. Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh

Kỳ họp thứ IV, Quốc hội khóa I đã quyết định: "Ra sức củng cố miền Bắc bằng cách đẩy mạnh và hoàn thành cải cách ruộng đất đúng theo kế hoạch, ra sức khôi phục kinh tế và phát triển kinh tế - văn hóa."
⇒ Công cuộc khôi phục kinh tế đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của toàn dân và thu được nhiều thành tựu quan trọng:

- Nông nghiệp:

+ Khẩn hoang, tăng vụ, phát triển đàn trâu bò và trang bị thêm nông cụ.

+ Xây dựng các công trình thủy nông mới, mở rộng diện tích tưới tiêu.

+ Đến năm 1957, sản lượng lương thực đạt trên 4 triệu tấn, giúp giải quyết cơ bản nạn đói kinh niên ở miền Bắc.

- Công nghiệp:

+ Khôi phục, mở rộng và xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp mới.

+ Cuối năm 1957, có 97 nhà máy, xí nghiệp lớn được nhà nước quản lý.

- Thủ công nghiệp, thương nghiệp:

+ Nhanh chóng được khôi phục, đảm bảo cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho nhân dân.

+ Tạo việc làm cho người lao động.

+ Ngoại thương tập trung trong tay nhà nước, với miền Bắc giao thương với 27 nước vào năm 1957.

- Giao thông vận tải: Khôi phục 700km đường sắt, sửa chữa và xây dựng mới hàng nghìn km đường ô tô, bến cảng, và hệ thống hàng không dân dụng quốc tế.

- Văn hóa, giáo dục:

+ Hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm được khẳng định.

+ Xây dựng nhiều trường đại học, xóa mù chữ cho hơn 1 triệu người.

Ý nghĩa:

- Củng cố chính quyền dân chủ nhân dân.

- Tăng cường khả năng phòng thủ đất nước.

- Mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất.

- Mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia trên thế giới.

 

2.2. Cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội (1958 - 1960)

a. Cải tạo quan hệ sản xuất

Thành tựu:

- Miền Bắc đã tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ, và công thương nghiệp tư bản tư doanh, trong đó hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính.

- Phong trào xây dựng hợp tác xã diễn ra sôi nổi trên khắp miền Bắc.

- Đến cuối năm 1960, có trên 85% hộ nông dân và 70% diện tích ruộng đất tham gia hợp tác xã nông nghiệp; hơn 87% thợ thủ công và 45% người buôn bán nhỏ cũng tham gia hợp tác xã.

- Đối với tư sản dân tộc, cải tạo được thực hiện bằng phương pháp hòa bình, và vào cuối năm 1960, hơn 95% hộ tư sản đã tham gia vào công tư hợp doanh.

Ý nghĩa:

Việc cải tạo đã cơ bản xóa bỏ chế độ bóc lột người lao động, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.

Hạn chế:

- Có sai lầm trong việc đồng nhất cải tạo và xóa bỏ tư hữu và các thành phần cá thể.

- Việc thực hiện không đúng nguyên tắc xây dựng hợp tác xã, tức là tự nguyện, công bằng, và dân chủ, đã làm hạn chế tính chủ động và sáng tạo trong sản xuất.

b. Bước đầu xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội

Kinh tế: Trọng tâm là phát triển kinh tế quốc doanh. Đến năm 1960, miền Bắc đã có 172 xí nghiệp lớn do trung ương quản lý và 500 xí nghiệp do địa phương quản lý.

Văn hóa, giáo dục, y tế:

- Kinh tế phát triển dẫn đến sự phát triển của giáo dục phổ thông.

- Năm 1960, số học sinh tăng 80% so với năm 1957.

- Cơ sở y tế cũng đã tăng 11 lần so với năm 1955.

 

3. Miền nam đấu tranh chống chế độ Mĩ - Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, tiến tới “Đồng Khởi” (1954 - 1960)

3.1. Đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 – 1959)

- Kể từ năm 1954, Đảng đã nhận định rõ ràng rằng đế quốc Mĩ đã trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Do đó, Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ cho cách mạng miền Nam là chuyển hướng đấu tranh từ chống Pháp sang chống chế độ Mĩ - Diệm, yêu cầu thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, bảo vệ hòa bình, và đồng thời giữ gìn, phát triển lực lượng cách mạng.

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào hòa bình đã diễn ra sôi nổi ở miền Nam Việt Nam, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, qua đó hình thành mặt trận chống Mĩ - Diệm.

- Từ năm 1958 đến 1959, âm mưu xâm lược của Mỹ và bản chất phản động của chính quyền Ngô Đình Diệm đã được bộc lộ rõ rệt. Điều này đã mở rộng mục tiêu và hình thức đấu tranh của nhân dân miền Nam:

+ Đấu tranh trực tiếp chống chế độ Mĩ - Diệm.

+ Đối phó với các chiến dịch khủng bố, đàn áp, cùng những hoạt động “tố cộng” và “diệt cộng”.

+ Đòi hỏi các quyền tự do, dân sinh, và dân chủ.

+ Đảm bảo giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng.

Hình thức đấu tranh: Hình thức đấu tranh cũng đã có sự chuyển biến, từ những hoạt động đấu tranh chính trị hòa bình chuyển sang việc sử dụng bạo lực, kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. 

 

3.2. Phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960)

Hoàn cảnh bùng nổ phong trào “Đồng khởi”

- Trong những năm 1957 – 1959, chính quyền Mỹ – Diệm đã gia tăng các hoạt động khủng bố và đàn áp lực lượng cách mạng:

- Mở rộng chiến dịch “tố cộng” và “diệt cộng”.

- Ban hành sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”, thực hiện “đạo luật 10/59”, với máy chém tràn lan khắp miền Nam, dẫn đến cái chết của nhiều người vô tội.

⇒ Cách mạng miền Nam đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách; cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đòi hỏi những biện pháp quyết liệt để vượt qua giai đoạn khó khăn này.

- Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (1/1959), quyết định đã được đưa ra cho nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ chính quyền Mỹ – Diệm.

⇒ Với nghị quyết của Đảng soi sáng, phong trào đấu tranh của quần chúng đã lan rộng khắp miền Nam, hình thành nên cao trào cách mạng mang tên “Đồng khởi”.

Diễn biến chính của phong trào “Đồng khởi”

- Phong trào đã khởi đầu từ những nơi lẻ tẻ ở các địa phương như: Bác Ái (2-1959), Trà Bồng (8-1959), và sau đó lan rộng ra khắp miền Nam, tiêu biểu nhất là cuộc “Đồng khởi” ở Bến Tre.

+ Ngày 17/1/1960, phong trào “Đồng khởi” bùng nổ ở 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre), từ đó lan rộng ra khắp huyện Mỏ Cày và tỉnh Bến Tre.

+ Quần chúng đã giải tán chính quyền địch, thành lập Ủy ban nhân dân tự quản, tổ chức lực lượng vũ trang, tịch thu ruộng đất của địa chủ và cường hào để chia cho dân cày nghèo.

- Từ Bến Tre, phong trào “Đồng khởi” đã lan tỏa khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một số khu vực miền Trung Trung Bộ.

Kết quả và ý nghĩa

- Phong trào đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh đơn phương” của Mỹ, làm lung lay chính quyền Ngô Đình Diệm.

- Đến tháng 12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.

- Các đại biểu tuyên thệ, thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam

- Sự kiện này đánh dấu bước phát triển quan trọng của cách mạng miền Nam, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.

 

4. Miền Bắc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961 - 1965)

4.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960)

Hoàn cảnh

- Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau.

- Sau hơn 5 năm, cách mạng ở hai miền đã đạt được những thắng lợi quan trọng.

⇒ Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được tổ chức tại Hà Nội.

Nội dung Đại hội

- Đề ra nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng toàn quốc và từng miền:

+ Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

+ Miền Nam đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, hướng tới hòa bình thống nhất đất nước.

+ Nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước: hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên toàn quốc, thực hiện hòa bình và thống nhất đất nước.

- Xác định rõ vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền Bắc – Nam:

+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và sự nghiệp thống nhất nước nhà.

+ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc giải phóng miền Nam khỏi sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai.

- Đề ra đường lối chung cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cụ thể hóa đường lối này trong kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 - 1965).

- Bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị với Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất.

Ý nghĩa

- Đại hội đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thể hiện sự trưởng thành của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng.

- Đại hội đã đưa ra đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và con đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là cơ sở quan trọng để quân dân hai miền Nam – Bắc đoàn kết chặt chẽ, anh dũng chiến đấu nhằm thực hiện mục tiêu chung: hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên toàn quốc, thực hiện hòa bình và thống nhất đất nước.

⇒ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam được coi là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà”.

 

4.2. Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

a. Nhiệm vụ cơ bản:

- Tích cực phát triển các ngành công nghiệp và nông nghiệp.

- Tiếp tục thực hiện cải tạo theo hướng xã hội chủ nghĩa; củng cố và nâng cao vai trò của thành phần kinh tế quốc doanh.

- Cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động.

- Tăng cường giữ gìn trật tự và an ninh xã hội.

b. Thành tựu:

Công nghiệp:

- Được Nhà nước chú trọng đầu tư vốn để phát triển.

- Ngành công nghiệp nặng đã có sự phát triển mạnh mẽ với nhiều nhà máy và xí nghiệp được xây dựng và đi vào hoạt động, tiêu biểu như khu gang thép Thái Nguyên, các nhà máy nhiệt điện Uông Bí, và thủy điện Thác Bà.

- Ngành công nghiệp nhẹ cũng phát triển với sự hình thành các khu công nghiệp như Việt Trì, Thượng Đỉnh (Hà Nội), cùng các nhà máy sản xuất đường Vạn Điếm, gốm sứ Hải Dương, và pin Văn Điển.

- Công nghiệp quốc doanh chiếm tới 93,1% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn miền Bắc, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Nông nghiệp:

- Nhiều nông trường và lâm trường quốc doanh đã được xây dựng.

- Hơn 90% hộ nông dân tham gia vào hợp tác xã, trong đó có 50% hộ tham gia hợp tác xã bậc cao.

- Diện tích canh tác được mở rộng và năng suất lao động tăng nhanh.

Thương nghiệp quốc doanh được Nhà nước ưu tiên phát triển, từ đó chiếm lĩnh thị trường.

Giao thông vận tải: Mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường sông và đường biển đã được xây dựng, củng cố và hoàn thiện, phục vụ hiệu quả cho yêu cầu giao lưu kinh tế và củng cố quốc phòng.

Các ngành văn hóa, giáo dục, y tế đã có bước phát triển và tiến bộ đáng kể.

- Vấn đề văn hóa - tư tưởng và việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa được đặc biệt chú trọng.

- Trong lĩnh vực giáo dục, số học sinh phổ thông năm học 1964 - 1965 đã tăng từ 1,9 triệu lên 2,7 triệu so với năm học 1960 - 1961, số sinh viên đại học tăng từ 17.000 lên 27.000.

- Ngành y tế mở rộng mạng lưới đến tận các huyện và xã.

c. Miền Bắc làm nghĩa vụ hậu phương

Trong giai đoạn 1961 – 1965, nhân dân miền Bắc vừa thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vừa đảm nhiệm vai trò hậu phương, chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Trong 5 năm (1961 - 1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men... đã được chuyển từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam; nhiều đơn vị vũ trang và nhiều cán bộ quân sự, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế được huấn luyện và đưa vào chiến trường để tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng.

d. Ý nghĩa:

Điều này đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của miền Bắc, giúp miền Bắc trở nên vững mạnh, tạo điều kiện củng cố an ninh quốc phòng và thực hiện tốt nghĩa vụ hậu phương, chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

 

5. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961 - 1965)

5.1. Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở Miền Nam

Sau thất bại trong phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960) ở miền Nam, Mĩ đã chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

- “Chiến tranh đặc biệt” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành thông qua quân đội Sài Gòn, dưới sự chỉ huy của các “cố vấn” Mỹ; chiến lược này dựa vào vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ.

- Âm mưu cơ bản: “dùng người Việt đánh người Việt”.

- Thủ đoạn thực hiện:

+ Tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn: đưa nhiều cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam, tăng cường lực lượng quân đội Sài Gòn và trang bị cho họ nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại.

+ Dồn dân lập “ấp chiến lược”, nhằm mục đích: đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi các làng xã, tiến tới nắm dân và thực hiện chương trình bình định miền Nam.

+ Mở các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam.

+ Tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc: phong tỏa biên giới và vùng biển để ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam.

 

5.2. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”

Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, quân dân miền Nam đã tích cực đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

- Mặt trận chống phá bình định: Cuộc chiến diễn ra giữa ta và địch, giằng co trong việc lập và phá “ấp chiến lược”.

+ Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ thực hiện được một phần kế hoạch dồn dân lập “ấp chiến lược” (đã lập được khoảng non nửa trong số 16.000 ấp).

+ Đến cuối năm 1962, hơn một nửa tổng số ấp, với gần 70% dân số miền Nam, vẫn nằm dưới sự kiểm soát của lực lượng cách mạng.

- Mặt trận chính trị: Phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân trong các đô thị có bước phát triển mạnh mẽ, nổi bật là cuộc đấu tranh của các tín đồ Phật giáo và “đội quân tóc dài” chống lại sự đàn áp của chính quyền Diệm.

- Mặt trận quân sự:

+ Năm 1962, quân giải phóng cùng với nhân dân đã đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của quân đội Sài Gòn vào chiến khu D, căn cứ U Minh, Tây Ninh.

+ Ngày 2/1/1963, quân dân miền Nam giành thắng lợi vang dội trong trận Ấp Bắc (Mĩ Tho). Sau trận Ấp Bắc, phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” bùng phát khắp miền Nam.

+ Trong Đông – Xuân 1964 – 1965, quân dân miền Nam đạt được nhiều thắng lợi quan trọng, tiêu biểu là các trận thắng: Bình Giã (Bà Rịa), An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài (Bình Phước),...

⇒ Với những chiến thắng liên tiếp trên các mặt trận, quân dân miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Bài viết liên quan: Lịch sử lớp 12 bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925