1. Quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng
Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong đó có ba nguyên tắc chủ yếu đó là:
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
- Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
Tài sản của vợ chồng sẽ được xác lập dưới hai chế độ đó là chế độ tài sản theo luật định và chế độ tài sản theo thỏa thuận. Đa số hiện nay các cặp vợ chồng đều chọn lựa thực hiện áp dụng chế độ tài sản theo luật định, tức không có thỏa thuận nào khác về chế độ tài sản của vợ chồng khi kết hôn.
Đối với tài sản chung của vợ chồng theo quy định gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Còn đối với tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của pháp luật gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Ngoài ra tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.
2. Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung hay tài sản riêng?
Lợi tức theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có giải thích lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.
Đối với quyền hưởng lợi tức theo quy định tại Điều 264 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người hưởng dụng có quyền sở hữu đối với lợi tức thu được từ tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng trong thời gian quyền này có hiệu lực. Trường hợp quyền hưởng dụng chấm dứt mà chưa đến kỳ hạn thu lợi tức thì khi đến kỳ hạn thu lợi tức, người hưởng dụng được hưởng giá trị của lợi tức thu được tương ứng với thời gian người đó được quyền hưởng dụng.
Ví dụ: ông A có một căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông A, do không có nhu cầu sử dụng nên ông A cho ông B thuê lại căn nhà này với số tiền là 10.000.000 đồng/tháng. Số tiền 10.000.000 đồng này được gọi là lợi tức phát sinh từ việc cho thuê nhà của ông A.
- Trả lời câu hỏi đề bài thì lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung hay tài sản riêng? Thì theo quy định tại khoản 2 Điều 43 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
+ Mà theo quy định thì khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì có quy định lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì là tài sản chung của vợ chồng.
+ Còn khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Ngoài ra, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của khoản 2 Điều 10 của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình thì lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình.
Như vậy có thể kết luận nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thuộc về vợ hay chồng sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của hai vợ chồng. Còn nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định hoặc không có thỏa thuận về lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì theo quy định lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân sẽ là tài sản chung của vợ chồng; còn nếu chia lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng nhưng vợ chồng thực hiện việc chia lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên thì phần lợi tức này sẽ là tài sản riêng của vợ chồng trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Kết luận việc xác định lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng thì phải dựa vào các căn cứ như chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn, lợi tức đấy đã chia hay chưa chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì khi đó mới có thể xác định chính xác lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng.
3. Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng khi ly hôn sẽ chia cho ai?
Như đã phân tích ở trên thì khoản lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng phải xem xét căn cứ để xác định nó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng.
- Nếu lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng thì khi ly hôn cũng được chia theo thỏa thuận hoặc chia theo công sức đóng góp của vợ chồng (mỗi bên nhận một nửa hoặc một tỷ lệ tương ứng với mức độ đóng góp theo quy định của pháp luật).
- Nếu lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản riêng của vợ chồng hoặc được chia trong thời kỳ hôn nhân và xác định là tài sản riêng thì theo nguyên tắc tài sản riêng của vợ chồng sẽ do vợ chồng quản lý không chia khi vợ chồng ly hôn, trừ trường hợp có sự tranh chấp mới yêu cầu tòa án xác định tài sản chung hay riêng của vợ chồng rồi mới xác định là chia cho ai khi vợ chồng ly hôn.
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng đối với lợi tức từ tài sản riêng trong trường hợp đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.
Do đó việc xác định lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng nếu vợ chồng ly hôn thì phải xác định lợi tức đó là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định là sau khi ly hôn sẽ chia cho vợ hay chồng.
Quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết có nội dung tương tự tại địa chỉ sau: Phân biệt tài sản chung và tài sản riêng của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân?
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng có thể trao đổi với số Hotline tel: 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Trân trọng cảm ơn!