Luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật là pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật.
Đây là hệ thuộc cơ bản của quy phạm pháp luật xung đột thường được áp dụng để điều chỉnh việc bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) ngoài hợp đồng. Ví dụ: “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nước kí kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại"; hoặc “pháp luật áp dụng đối với nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng là pháp luật của nước kí kết nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại".
Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại được thực hiện ở nước này nhưng hậu quả của hành vi đó lại phát sinh ở một nước khác thì: pháp luật một số nước (Italia, Hi Lạp,...) cho rằng, nơi vi phạm pháp luật là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại; pháp luật Anh, Mỹ lại quy định rằng, nơi vi phạm pháp luật là nơi phát sinh hậu quả của hành vi gây thiệt hại, còn pháp luật các nước khác, như: Đức, Việt Nam... lại cho rằng, nơi vi phạm pháp luật có thể là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại.
Trước đây theo khoản 1 Điều 835 Bộ luật dân sự năm 1995 (hết hiệu lực) quy định:
“Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại".
Quy định này tiếp tục được Bộ luật dân sự năm 2005 (hết hiệu lực) quy định tại khoản 1 Điều 773 như sau:
Điều 773. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1. Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại.
2. Việc bồi thường thiệt hại do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc biển cả được xác định theo pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác.
3. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiện nay, quy định về bồi thường thiệt hại hợp đồng được áp dụng theo điều 687, Bộ luật dân sự năm 2015, như sau:
Điều 687. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1. Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng.2. Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng.
1. Hành vi vi phạm pháp luật là gì?
Hành vi vi phạm pháp luật là một dạng hành vi pháp luật thể hiện ở hành vi của các cá nhân, cơ quan, tổ chức không tuân thủ theo các nghĩa vụ do pháp luật quy định hoặc làm những điều mà pháp luật cấm xác định gây ra thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại cho các lợi ích, cá nhân, tổ chức khác. Vi phạm pháp luật là những hành vi trái pháp luật, còn lỗi của chủ thể có năng lực hành vi pháp lý xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật là hành vi của con người gồm hành vi hành động và hành vi không hành động; là hành vi trái với quy định của pháp luật, trái quy định của pháp luật thể hiện ở việc không làm đúng với điều luật quy định và cho phép, không làm hoặc là làm không đầy đủ các điều khoản mà pháp luật quy định, bắt buộc phải làm hoặc làm điều mà pháp luật cấm. Vi phạm pháp luật là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể, trạng thái và tâm lý thì hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm mà chủ thể thực hiện hành vi trái với pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện nếu chủ thể có hành vi trái pháp luật là cá nhân thì người đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật và không mắc các bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình gây ra và hậu quả pháp lý của hành vi đó. Tùy vào tính chất vi phạm pháp luật và hậu quả có hại cũng như mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và tính chất của các chế tài có thể áp dụng đối với hành vi mà các vi phạm pháp luật được chia thành các loại tội phạm và vi phạm. Trong đó, thì vi phạm có thể là vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật nhà nước.
Vi phạm pháp luật đã xuất hiện từ khi có pháp luật; qua thời gian phát triển, nhận thức của con người về vi phạm pháp luật đã có nhiều sự thay đổi. Sự phát triển của đời sống xã hội thì nhận thức của con người về vi phạm pháp luật cũng ngày càng toàn diện, Đầy đủ và chính xác hơn. Hiện tượng xã hội bị coi là vi phạm pháp luật khi có đầy đủ các dấu hiệu cơ bản. Vi phạm pháp luật là hành vi thực tế của con người; hành vi là sự xử sự của con người trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện bằng lời nói, thao tác, cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những thao tác, cử chỉ và lời nói đó. Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi con người nhằm xác lập và duy trì trật tự xã hội. Thông qua pháp luật bằng nhà nước và xã hội chính thức thể hiện được quan điểm của mình trong việc khuyến khích hoặc ngăn cấm một hành vi cụ thể nào đó. Phải có hành vi thực tế của chủ thể thì mới có thể xác định có vi phạm pháp luật hay không? Do đó, vi phạm pháp luật không phải là suy nghĩ hay ước mơ của con người hay những biến động nằm ngoài ý thức của con người; mà vi phạm pháp luật là kết quả của ý thức con người được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể. vi phạm pháp luật còn là hành vi trái với pháp luật - các quy phạm pháp luật là khuôn mẫu cho cách cư xử của con người; thông qua các quy phạm pháp luật thì các cá nhân, tổ chức trong xã hội sẽ biết mình cần phải làm gì và không được phép làm gì... những hành vi ngược với cách sử sử nêu trong quy phạm pháp luật thì hành vi đó không thực hiện đúng cách thức mà pháp luật yêu cầu có thể hành vi bị pháp luật cấm. Những hành vi trái với đạo đức xã hội và trái với quy định của các tổ chức trong xã hội, trái với phong tục tập quán nhưng không trái pháp luật thì sẽ không phải là vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện. Chủ thể có năng lực hành vi dân sự khi họ đã đạt đến 1 độ tuổi nhất định do pháp luật quy định; có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Đối với từng lĩnh vực khác nhau thì pháp luật sẽ quy định các độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau. Còn khả năng nhận thức tức là chủ thể nhận thức được hành vi của mình là đúng hay sai theo chuẩn mực xã hội,
2. Luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật là gì?
Luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật là pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật. Đây là hệ thuộc cơ bản của quy phạm pháp luật xung đột thường được áp dụng để điều chỉnh việc bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) ngoài hợp đồng. Ví dụ như: Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nước ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại; hoặc pháp luật áp dụng đối với việc phát sinh ngoài hợp đồng là pháp luật của nước ký kết nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại. Trong các trường hợp hành vi gây thiệt hại được thực hiện ở nước này những hậu quả của hành vi đó lại phát sinh ở một nước khác thì pháp luật của một số nước sẽ cho rằng: Nơi vi phạm pháp luật là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại.
Hệ thuộc của luật là một bộ phận cấu thành các quy phạm xung đột - đây là phần chỉ ra hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ liên quan. Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài; do đó, hệ thuật luật của tư pháp quốc tế là các nguyên tắc xác định luật áp dụng trong các quy phạm xung đột. Không có hệ thuộc nào là quan trọng nhất trong việc giải quyết xung đột pháp luật vì mỗi hệ thuộc chỉ có một phạm vi áp dụng khác nhau nên không có hệ thống nào là quan trọng nhất trong việc giải quyết xung đột pháp luật. Luật nơi thực hiện hành vi là hệ thống pháp luật nước nơi thực hiện một hành vi pháp lý; hoặc nơi xảy ra một sự kiện pháp lý. Hành vi xảy ra ở đâu luôn chịu sự điều chỉnh của pháp luật ở nơi đó. Luật nơi thực hiện hành vi sẽ bao gồm nhiều hình thức khác nhau cụ thể:
- Luật nơi giao kết hoặc nơi thực hiện hợp đồng: Hiệu lực hình thức của hợp đồng sẽ được xác định theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng;
- Luật nơi thực hiện một nghĩa vụ: Nghĩa vụ cấp dưỡng; nghĩa vụ nuôi con; nghĩa vụ chăm sóc;...
- Luật nơi lập di chúc: Hiệu lực hình thức của di chúc sẽ được xác định theo luật nơi lập ra di chúc;
- Luật nơi tiến hành đăng ký kết hôn: Hiệu lực hình thức của hôn nhân sẽ theo luật nơi tiến hành kết hôn;
- Luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh ra hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại đó;.... Xác định tính chất có lỗi hay không có lỗi; mức độ của hành vi gây thiệt hại; cách thức bồi thường thiệt hại theo luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc là luật nơi phát sinh ra hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại.
Nếu hành vi pháp lý được thực hiện có dấu hiệu lần trên cát vào thì sẽ không được công nhận là có hiệu lực. Hiệu lực của nội dung hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật do các bên thỏa thuận với điều kiện những thỏa thuận đó không trái với trật tự, không trái với đạo đức, và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nơi thực hiện hợp đồng.
Trên đây là tư vấn mà công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc hay có câu hỏi pháp lý có liên quan thì vui lòng liên hệ trực tiếp đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách!