Tạo ra việc sử dụng phổ cập các loại trang thiết bị thuộc loại nguồn nguy hiểm cao độ trong cuộc sống. Thực tế cho thấy, việc sử dụng các loại nguồn nguy hiểm cao độ làm xuất hiện nhiều hoàn cảnh đặc biệt, vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát của con người, gây ra những thiệt hại vật chất cho các chủ thể luật quốc tế. Đây là loại thiệt hại nằm ngoài ý chí cùa chủ thể sử dụng, bất chấp các biện pháp bâo đảm mà các quốc gia hữu quan đã áp dụng trong khi sử dụng. Phạm vi, mức độ cùa các thiệt hại kiểu này nhiều trường hợp rất to lớn và nghiêm trọng mà khả năng xuất hiện các loại thiệt hại này luôn là nguy cơ tiềm tàng. Thực tế này đã đưa tới nhận thức đúng đắn của các quốc gia trong việc cần thiết phải có sự điều chỉnh pháp lý để khắc phục hậu quả mà thiệt hại này gây ra. Đó là lý do hình thành, tồn tại của chế định trách nhiệm pháp lý khách quan - trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra từ việc thực hiện hành vi mà luật quốc tế không cấm.

1. Nguồn luật điều chỉnh

Hiện tại, các quy phạm về trách nhiêm bồi thường thiệt hại gây ra do thực hiện hành vi mà luật quốc tế không cấm được ghi nhận trong các ngành luật chuyên biệt:

- Luật hàng không dân dụng quốc tế.

- Luật vũ trụ quốc tế;

- Luật nguyên tử quốc tế;

- Luật biển quốc tế ...

Có thể viện dẫn một số công ước quốc tế cụ thể điều chỉnh trách nhiệm này:

- Công ước về trách nhiệm quốc tế đối với thiệt hại do phương tiên bay vũ trụ gây ra 1972;

>> Xem thêm:  Tổ chức quốc tế là gì ? Đặc điểm, phân loại tổ chức quốc tế

- Công ước về trách nhiệm trước bên thứ 3 trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân 1960;

- Công ước bổ sung cho công ước trên năm 1963;

- Công ước về trách nhiệm của người tác nghiệp các tàu hạt nhân năm 1962;

- Công ước về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân năm 1963;

- Công ước về bồi thường thiệt hại phát sinh do phương tiện bay nước ngoài gây cho người thứ 3 trên mặt đất 1952.

2. Căn cứ xác định trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra

Trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra bởi hành vi luật quốc tế không cấm với ý nghĩa là quan hệ pháp lý quốc tế có nội dung cơ bản là nghĩa vụ của các quốc gia được thông qua phù hợp với các thoả thuận riêng biệt để thực hiện bồi thường thiệt hại phát sinh do các chủ thể thi hành các hoạt động hợp pháp và quyền của các quốc gia bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại dựa ưên cơ sở các thoả thuận riêng biệt.

Có ba điều kiện được coi là cơ sở xác định trách nhiệm khách quan:

- Có quy phạm pháp lý quy định nghĩa vụ và quyền tương úng trong trách nhiệm khách quan;

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

- Có sự kiện làm phát sinh hiệu lực áp dụng của các quy phạm pháp lý nêu trên;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiên pháp ỉý và thiệt hại vật chất phát sinh.

Trong ba điều kiện nói trên, điều kiện thứ nhất có ý nghĩa là cơ sở pháp lý và điều kiện thứ hai là cơ sở thực tiễn của trách nhiệm này. Nguồn gốc xuất hiện của sự kiện làm phát sinh hiệu lực áp dụng các quy phạm pháp lý của trách nhiệm khách quan có quan hệ với yếu tố hoàn cảnh đặc biệt là sự xuất hiện tình thế khi quốc gia mất khả năng kiểm soát đối với sự vận hành nguồn nguy hiểm cao độ, do xuất hiện quá trình không mong muốn, bất ngờ, không thể khắc phục trong trang thiết bị, vật liệu, từ đó làm phát sinh sự đe dọa gây thiệt hại ngoài ý muốn. Sự đe dọa này không thể khắc phục được với việc áp đụng các biện pháp hiện có. Điều kiện về sự kiện chỉ có ý nghĩa là cơ sở thực tiễn để xác định trách nhiệm vật chất từ hành vi mà luật quốc tế không cấm khi tồn tại các điều ước chuyên biệt điều chỉnh các sự kiện này. Và các điêu ước quốc tế như vây được áp dụng trong các lĩnh vực cụ thể (biển, hàng không, vũ trụ...) và chỉ liên quan đến mối quan hệ đối với sử dụng, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ. Có nghĩa là, trong trường hợp không có các điều ước quốc tế kể trên, các quốc gia sẽ không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do việc họ thực hiện các hoạt động hợp pháp mà gây ra thiệt hại.

3. Thực hiện trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra

Khi xác định tính chất, mức độ thiệt hại để giải quyết trách nhiệm bồi thường từ việc quốc gia thực hiện các hành vi mà luật quốc tế không cấin, có thể áp dụng thiệt hại thực tế để giải quyết vấn đề bồi thường vì vổi thiệt hại này, nghĩa vụ bồi thường của quốc gia gây thiệt hại là nghĩa vụ bắt buộc. Thiệt hại trực tiếp được hiểu là giá trị của tài sản đã bị phá hoại hoặc hủy hoại và các chi phí mà quốc gia bị hại đã bỏ ra để loại bỏ thiệt hại đó. Đối với trách nhiệm từ thực hiên hành vi hợp pháp của quốc gia, có thể áp dụng các hình thức sau:

- Đền bù bằng tiền hoặc hiên vật. Đối với hình thức này, nguyên tắc chung của việc bồi thường là sự bồi thường phải tương xứng với thiệt hại xảy ra, và phải bồi thường toàn bộ.

Đây là hình thức chủ yếu để thực hiện trách nhiệm này.

- Ngoài ra, có thể áp dụng hãn hữu hình thức thực hiện trách nhiêm khác như hình thức thay thế thiệt hại bằng viộc chuyển giao cho chủ thể bị hại những đối tượng tương ứng về ý nghĩa và giá trị, thay thế đối tượng bị mất đi.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo