1. Luật sở hữu trí tuệ quy định về hình ảnh như thế nào? 

Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, các loại hình tác phẩm bao gồm:

- Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học:

+ Sáng tác, bài hát, kịch, hội họa, điêu khắc, mô hình, và các tác phẩm sân khấu.

+ Tác phẩm kiến trúc, thơ, truyện, tiểu thuyết, bài luận, và tác phẩm văn xuôi.

- Tác phẩm nhiếp ảnh.

Trong đó, tác phẩm nhiếp ảnh theo quy định tại Điều 14 Nghị định 22/2018/NĐ-CP được định nghĩa là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra. Hình ảnh có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác. Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích. Điều quan trọng là tác phẩm nhiếp ảnh được bảo hộ phải là kết quả của lao động trí tuệ của chính người tác giả. Điều này có nghĩa là người tác giả phải tự mình sáng tạo tác phẩm nhiếp ảnh mà họ đăng ký bảo hộ. Tác phẩm nhiếp ảnh không được sao chép từ nguồn khác mà không có sự sáng tạo hoặc công sức đầu tư độc lập từ người tác giả. uyền tác giả của người sáng tạo tác phẩm nhiếp ảnh là được bảo vệ và không thể sao chép, phát hành hoặc sử dụng mà không có sự cho phép của họ. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi và động lực cho các nghệ sĩ và tác giả nhiếp ảnh để tiếp tục sáng tạo và đóng góp cho sự phát triển của văn hóa và nghệ thuật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, về thời điểm phát sinh quyền tác giả đối với tác phẩm nhiếp ảnh, có các điều sau:

- Thời điểm phát sinh quyền tác giả:

Theo luật, quyền tác giả phát sinh từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Thời điểm này không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, hay tình trạng công bố và đăng ký của tác phẩm. Quyền tác giả bắt đầu từ khi tác phẩm nhiếp ảnh được tạo ra và hiển thị trong một hình thức vật chất cụ thể.

- Không phân biệt các yếu tố khác:

Luật không phân biệt giữa các yếu tố như nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, hay tình trạng công bố và đăng ký của tác phẩm. Điều này có nghĩa là quyền tác giả không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố này, và sẽ tồn tại từ thời điểm tác phẩm được tạo ra và thể hiện.

- Sự công bố và đăng ký:

Quyền tác giả có thể phát sinh ngay cả khi tác phẩm đã được công bố hoặc chưa công bố, đã được đăng ký hoặc chưa đăng ký. Sự công bố ở đây có thể liên quan đến việc tác phẩm được phổ biến, trình bày công khai, hoặc xuất bản một cách rộng rãi. Điều này bảo vệ quyền tác giả đối với mọi trạng thái của tác phẩm.

 

2. Xử phạt vi phạm bản quyền hình ảnh theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Nghị định 131/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm bản quyền, các hành vi sau đây sẽ bị xử phạt theo mức độ và hình thức cụ thể:

- Hành vi sử dụng tác phẩm mà không nêu tên thật, bút danh tác giả, tên tác phẩm hoặc nêu không đúng tên thật hoặc bút danh tác giả, tên tác phẩm:

+ Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

+ Buộc phải cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

+ Sửa lại đúng tên tác giả, tên tác phẩm trên bản sao tác phẩm.

- Hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả:

+ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

+ Buộc phải cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

+ Dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số.

+ Buộc tiêu hủy tác phẩm.

- Hành vi xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả:

+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

+ Buộc phải cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

+ Dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số.

+ Buộc tiêu hủy tác phẩm.

- Hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả:

+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

+ Phải cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

- Hành vi phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả:

+ Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

+ Dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số.

+ Buộc tiêu hủy tang vật.

- Hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả:

+ Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

+ Buộc phải dỡ bỏ bản sao tác phẩm.

- Hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả:

+ Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

+ Dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số.

+ Buộc tiêu hủy tang vật.

Những biện pháp trên nhằm đảm bảo rằng quyền tác giả được bảo vệ và người vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm bản quyền.

 

3. Thủ tục đăng ký bản quyền hình ảnh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Nghị định 22/2018/NĐ-CP về thủ tục đăng ký bản quyền hình ảnh, quy trình đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan được mô tả như sau:

- Người đăng ký:

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân khác để thực hiện thủ tục đăng ký.

- Địa điểm nộp hồ sơ:

Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan được nộp tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nếu người đăng ký không thuận tiện đến trực tiếp Bộ, họ có thể nộp tại Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc thành phố Đà Nẵng.

- Gửi hồ sơ qua đường bưu điện:

Người đăng ký cũng có thể chọn phương thức gửi hồ sơ qua đường bưu điện nếu họ không thể đến nộp trực tiếp. Điều này tạo thuận lợi cho những người ở xa hoặc có điều kiện khó khăn để đến nộp hồ sơ trực tiếp.

- Nội dung hồ sơ:

Hồ sơ đăng ký cần bao gồm đầy đủ thông tin và tài liệu liên quan đến tác phẩm, bao gồm mô tả chi tiết về nội dung, tên tác giả, thông tin về chủ sở hữu, và các thông tin khác cần thiết theo quy định.

- Thủ tục xác nhận và cấp quyền:

Sau khi nhận được hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác nhận và kiểm tra thông tin trong hồ sơ. Nếu đầy đủ và hợp lệ, quyền tác giả, quyền liên quan sẽ được cấp và thông báo cho người đăng ký.

Quy định này rõ ràng hướng dẫn về quy trình đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong việc quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hình ảnh. Người đăng ký có thể là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan, và họ có thể tự nộp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác. Hồ sơ đăng ký có thể được nộp trực tiếp tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc các văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, và cũng có thể gửi qua đường bưu điện. Hồ sơ cần bao gồm đầy đủ thông tin và tài liệu chi tiết về tác phẩm. Sau khi nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác nhận và kiểm tra, và nếu hợp lệ, quyền tác giả và quyền liên quan sẽ được cấp. Quy định này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hình ảnh.

Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam?

Để tiếp cận dịch vụ tư vấn pháp lý của chúng tôi, quý khách có thể liên hệ trực tiếp với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên viên của chúng tôi sẽ tận tâm lắng nghe và cung cấp giải pháp phù hợp nhất cho tình huống cụ thể của quý khách. Ngoài ra, quý khách cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ phản hồi và hỗ trợ giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.