Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật viên chức số 58/2010/QH12

Luật việc làm 2013 số 38/2013/QH13

Nghị định 28/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 số 58/2014/QH13

Nghị quyết 93/2015/QH13 thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động

2. Nội dung tư vấn:

Cháu xin chào Luật sư! Cháu xin hỏi Luật sư về nội dung như sau ạ: Cháu là giáo viên THCS đi dạy từ năm 2002, cháu dạy học tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ạ, cháu vào biên chế chính thức từ tháng 6/2003. Hiện nay do điều kiện gia đình, cháu dạy xa nhà đã bao năm nay cháu không xin được về gần nhà, con cháu còn nhỏ lại ốm đau, nên cháu muốn xin nghỉ việc dạy học . Cháu xin hỏi cháu sẽ làm thủ xin nghỉ việc như thế nào ạ? Cháu có được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp không ạ? Thủ tục xin trợ cấp thế nào ạ? Cháu xin nhờ luật sư giúp cháu ạ! Cháu xin cảm ơn nhiều!

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn là giáo viên đã vào biên chế nhà nước như vậy theo quy định của luật bạn đã là viên chức. 

>> Xem thêm:  Luật sư Tư vấn Pháp luật Miễn phí qua Điện thoại

Khoản 5, 6 Điều 29 Luật Viên chức quy định như sau:

"5. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:

a) Không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc;

c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng;

đ) Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh;

e) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục.

6. Viên chức phải thông báo bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 03 ngày đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 5 Điều này; ít nhất 30 ngày đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này."

Như vậy, theo quy định của luật, bạn hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc nếu như đáp ứng được điều kiện quy định trên.

>> Xem thêm:  Số điện thoại luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài

Điều 49 Luật Việc làm quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

"Điều 49. Điều kiện hưởng
Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;
3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;
4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Chết."

Như vậy, nếu bạn đáp ứng được những điều kiện trên thì bạn sẽ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm những giấy tờ sau:

1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:

3. Sổ bảo hiểm xã hội.

Kính gửi: Anh/Chị Anh/Chị vui long cho tôi tư vấn them về *khoản 4 điều 53 Luật Việc làm*. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 53 Luật Việc làm thì người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc trường hợp tìm được việc làm được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 Luật này. *Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp*. Nếu NLD có thời gian đóng BHTN được 01 năm 04 tháng. NLD đã đăng ký trợ cấp thất nghiệp, và được hưởng 3tháng trợ cấp với thời gian từ 5/6 – 5/8 và đến nay đã nhận được 02 tháng, còn 01 tháng chưa nhận. Tuy nhiên, ngày 25/6 NLD được ký HDLD. Vậy cho tôi hỏi: căn cứ theo *khoản 4 điều 53 Luật Việc làm*: thời gian sẽ bảo lưu như thế nào đối với trường hợp này. Xin cảm ơn.

Điều 50 Luật Việc làm quy định như sau:

"Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.
3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này."

Ngoài ra, Khoản 7 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định:

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại

"7. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm. Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định."

Như vậy, theo dữ liệu bạn đưa ra thì người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp được 1 năm 04 tháng do đó đối chiếu theo quy định pháp luật trên thì người lao động này không được bảo lưu thời gian làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo.

Xin chào tứ vấn luật Minh Khuê Xin cho tôi hỏi trường hợp của tôi có nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp Tôi đã làm việc được tại cơ quan 2 năm và xin nghỉ việc và được cơ quan quyết định cho nghỉ việc từ 1/7/2013, từ ngày nghỉ việc đến nay tôi chưa xin được công việc mới và tôi cũng có đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 12 tháng tại cơ quan. Và ngày 20/6/2016 tôi làm đơn xin trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp. Như vậỵ trường hợp của tôi có nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp không.Xin luật Minh Khuê tư vấn . Chân thành cảm ơn.

Khoản 1 Điều 17 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 17. Nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định tại Điều 16 của Nghị định này cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn nghỉ việc từ 1/7/2013 do đó đối chiếu theo quy định pháp luật trên thì bạn không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Em muốn hỏi cách tính tiền bảo hiểm thất nghiệp của em. Và cách lấy tiền bảo hiểm thất nghiệp trong một lần. Em làm việc Cty A được 22 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, sau đó em nghỉ và không có lãnh tiền bảo hiểm thất nghiệp. và sau đó em chuyển sang cty B và tiếp tục làm tiếp và đóng bảo hiểm được 22 tháng. Vậy tổng cộng em đóng bảo hiểm được 44 tháng. vậy cho em hỏi giờ em nghỉ cty hiện tại để chuyển sang công ty khác nên em muốn lãnh tiền bảo hiểm thất nghiệp liệu có lãnh được tiền bảo hiểm thất nghiệp không? em sẽ được bao nhiêu tháng và có thể lấy tiền bảo hiểm thất nghiệp trong một lần không? Cám ơn luật sư.

Khoản 6 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định như sau:

"6. Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau thời hạn nêu trên, tổ chức bảo hiểm xã hội phải thông báo bằng văn bản với trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp. Thông báo về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bảo hiểm xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực hiện bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; 01 bản đến người lao động. Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì nếu bạn không hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Và Điều 49 Luật Việc làm quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

"Điều 49. Điều kiện hưởng
Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;
3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;
4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Chết."

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật thuế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Như vậy, nếu bạn đáp ứng được những điều kiện trên thì bạn sẽ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Điều 50 Luật Việc làm quy định:

"Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.
3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này."

Và Khoản 7 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định như sau:

"7. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm. Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định."

Theo dữ liệu bạn đưa ra, bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp được 44 tháng, đối chiếu theo quy định pháp luật trên thì bạn được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Số tháng lẻ chưa giải quyết trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Chào luật sư, Hiện tại em vừa nghỉ việc ở cty, em đã lên làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp và được hẹn ngày 05/07/2016 này đến lấy sổ và các giấy tờ liên quan. Em cũng có đăng ký lớp hướng nghiệp diện hỗ trợ thất nghiệp của trung tâm. Nhưng sắp tới đây em có ý định hùn vốn thành lập cty với anh chị em trong nhà, em băn khoăn không biết như vậy em có bị cắt bảo hiểm và các khoản trợ cấp cũng như ưu đãi theo chế độ thất nghiệp không. Vì em là chủ tịch hội đồng thành viên sáng lập và kiêm luôn giám đốc. Hiện tại em đã hoàn thành đăng ký kinh doanh tại nhà và được sở chấp thuận. Chỉ còn bước chuẩn bị giấy tờ lên nộp cho sở thôi. Liệu thời điểm nhận được giấy cấp phép kinh doanh của sở KH&ĐT có được tính là thời điểm em bắt đầu 1 hợp đồng lao động mới hay không. Trong trường hợp này của em, nếu em muốn giữ được các khoản trợ cấp thất nghiệp (3 tháng) mà vẫn có thể điều hành và kinh doanh cty mới thì có cách nào không ạ. Rất mong sớm nhận được tư vấn từ luật sư. Em xin cảm ơn.

Khoản 3 Điều 53 Luật Việc làm quy định như sau:

"3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:
a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;
b) Tìm được việc làm;"

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn mở công ty và làm chủ tịch hội đồng thành viên sáng lập kiêm giám đốc do đó đối chiếu theo quy định pháp luật, bạn đã có việc làm. Như vậy, bạn không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. 

Lời đầu tiên xin kính chức Luật sư sức khỏe. Em có một câu hỏi mong luật sư tư vấn giúp em về điều kiện lĩnh bảo hiểm xã hội một lần. E đã đóng BHXH được 5 năm. Nay em được xác định là mang bệnh viêm gan B mãn tính. Vậy em có thể làm thủ tục lĩnh BH thất nghiệp và BHXH một lần ngay sau khi nghỉ việc được không ah. Mong nhận được tư vấn của luật sư. Trân trọng cảm ơn Luật sư, Van Tuấn.

Nếu bạn đáp ứng được điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định tại Điều 49 Luật Việc làm trên thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020

Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội quy định như sau:

"Điều 60. Bảo hiểm xã hội một lần
1. Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;
b) Ra nước ngoài để định cư;
c) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế;
d) Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu."

Điều 1 Nghị quyết 93/2015/QH13 quy định như sau:

"Điều 1. 
1. Người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để đủ điều kiện hưởng lương hưu nhằm bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. 
Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội khi có yêu cầu thì được nhận bảo hiểm xã hội một lần."

Như vậy, nếu bạn muốn nhận bảo hiểm xã hội một lần, bạn phải thuộc một trong những điều kiện được quy định trong luật như trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật Lao động.

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí và trả phí qua Email