1. Tìm hiểu về Luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đầu tiên của nước ta được Quốc hội Khoá VIII, kì họp thứ 7 thông qua ngày 30.6.1990, có hiệu lực mc thi hành từ ngày 01.10.1990.

Mục tiêu của việc ban hành Luật là nhằm điều tiết sản xuất, tiêu dùng và thu nhập của người tiêu dùng đối với một số hàng hoá, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước với các đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá thuộc danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Ở Việt Nam, trước khi có Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990, Nhà nước thu thuế hàng hoá (tương tự thuế tiêu thụ đặc biệt) nhưng chỉ áp dụng đối với thành phần kinh tế tập thể và cá thể. Việc cải cách chế độ thu ngân sách nhà nước trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội Khoá VIII, kì họp thứ 4 năm 1989, thực hiện theo nguyên tắc là “thuế áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế" đã đặt ra yêu cầu bảo đảm sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế. Thực hiện nguyên tắc đó, Luật này là văn bản luật đầu tiên quy định thu đặc biệt đối với tất cả các thành phần thuế tiêu thụ ương với 34 kinh tế. Luật gồm Lời nói đầu, 8 ch hững nội dung cơ bản như sau: 1) Quy điều và có n p thuế tiêu định tổ chức, cá nhân là đối tượng nộ thụ đặc biệt; nguyên tắc thu thuế tiêu thụ đặc biệt; 2) Quy định danh mục hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (thuốc lá, rượu bia các loại, pháo, bài lá, vàng mã); 3) Quy định căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt; 4) Quy định giảm, miễn thuế tiêu thụ đặc biệt; 5) Quy định xử lí vi phạm, khen thưởng, khiếu nại liên quan đến thu, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 có một số hạn chế cơ bản sau: diện hàng hoá chịu thuế chỉ bao gồm hàng hoá sản xuất trong nước, không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hoạt động cung ứng dịch vụ; danh mục hàng hoá chịu thuế còn ít, chưa phản ánh đúng nhu cầu điều tiết sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành đã quy định một phương thức thu nộp thuế mới, đối với xã hội Việt Nam đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế thị trường có những quy định chưa thật chặt chẽ. Cũng vì vậy, để bảo đảm tính khả thi, tính hiệu quả của các quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt vào năm 1993 và năm 1995, ngày 20.8.1998 Quốc hội khóa X, kì họp thứ 3 sửa đổi, bổ sung, ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1999 và năm 2003, Quốc hội Khóa XI, kì họp thứ 3, ngày 17.6.2003 ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đảm bảo để các quy định pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt kịp thời đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực nộp và thu thuế tiêu thụ đặc biệt, bảo đảm được nguồn thu của ngân sách nhà nước. Đồng thời, khuyến khích được các đối tượng nộp thuế ngày càng phải đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước.

2. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt

về bản chất, thuế tiêu thụ đặc biệt cũng là một loại thuế gián thu, do người tiêu dùng chịu nhưng thuế tiêu thụ đặc biệt có một số đặc thù giúp ta phân biệt loại thuế này với các loại thuế gián thu khác.

Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp. Khác với các loại thuế gián thu khác như thuế bán hàng (sale tax), thuế doanh thu (gross receipt tax) và thuế giá ttị gia tăng là những loại thuế có đối tượng chịu thuế rộng rãi, bao quát hầu hết các mặt hàng và dịch vụ được tiêu thụ trong nền kinh tế, thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng. Tuỳ theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia mà danh mục hàng hoá và dịch vụ phải chịu loại thuế này có thể rất khác nhau. Điều này được lí giải bởi chủ trương, chính sách của Nhà nước ưong việc hướng dẫn sàn xuất, tiêu dùng cũng như ừong lĩnh vực điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở từng giai đoạn phát triển kinh tể, xã hội và phong tục tập quán của mỗi nước. Nhìn chung các quốc gia thường đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số mặt hàng được coi là cao cấp và không thiết yếu, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng như: thuốc hút, rượu, bia, xăng dầu.

Thứ hai, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác.

Đối với cắc loại thuế gián thu khác như thuế giá ttị gia tăng, thuế doanh thu và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, luật pháp các nước thường quy định hệ thống thuế suất tỉ lệ làm căn cử để tính thuế. Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ, tuỳ theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi nước.

Ở những nước áp dụng biểu thuế suất cố định như Mỹ, Nhật, một số nước châu Âu và Philippines, mức thu được ấn định bằng một lượng tuyệt đối trên đơn vị hàng hoá chịu thuế.

Ví dụ: ở Hoa Kỳ, mức thu thuế tiêu thụ đậc biệt đối với thuốc lá là 39 xen/bao; mức thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại rượu dao động từ 1,07 đến 3,40 đô-la/ga-lông; ở Nhật Bản, mức thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với l.oòo điếu thuốc lá là 3.126 yên, với 1 KI xăng dầu là 53.800 yên.

Biểu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cũng có thể bao gồm hệ thống thuế suất tỉ lệ, theo đó, mức thu quy định bằng một tỉ lệ phần trăm tính trên giá tính thuế hàng hoá, dịch vụ. Trung Quốc và Việt Nam là những ví dụ về quốc gia áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu thụ đặc biệt. Ở Trung Quốc, thuế suất áp dụng đối với thuốc lá và rượu dao động từ 60 - 70%.

Cũng có quốc gia sử dụng cả thuế suất cố định và thuế suất tỉ lệ để hướng dẫn tiêụ dùng đối với một số mặt hàng đặc biệt, Thái Lan là một ví dụ về loại quốc gia này. Theo pháp luật của Thái Lan: rượu, các đồ uổng không cồn, thuốc lá, xăng là những mặt hàng chịu thụế tiêu thụ đặc biệt theo thuế suất cố định trong khi đó bài lá, diêm và xi-măng lại chịu thuế theo mức thuế suất tỉ lệ.

Đối với thuế suất ti lệ, việc điều chỉnh mức thu thường được đặt ra khi Nhà nước chủ trương thay đổi chính sách hướng dẫn phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng xã hội hoặc khi cần thay đổi tỉ lệ động viên vào ngân sách nhà nước. Đối với thuế suất cố định, ngoài việc chịu ảnh hưởng của những yếu tố dẫn đến việc sửa đổi mức thu như trường hợp thuế suất tỉ lệ nói trên, mức độ lạm phát cũng là một tác nhân quan trọng khiến các nhà làm luật phải thường xuyên chỉnh sửa mức thu theo kịp sự biến động của giá trị của đồng tiền.

Dù áp dụng thuế suất tỉ lệ hay thuế suất cố định, thông thường, các quốc gia đều quy định mức thuế suất cao, thậm chí rất cao so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lí, điều tiết thu nhập của những đối tượng có sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ đặc biệt, từ đó tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Thứ ba, thuế tiêu thụ đặc biệt thường chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu. Cùng một mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi luân chuyển qua khâu lưu thông sẽ không bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt. Đặc điểm này cho thấy thuế tiêu thụ đặc biệt khác với thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng ở chỗ các loại thuế này đánh ưên toàn bộ doanh thu bán hàng hoặc trên giá trị tăng thêm của hàng hoá ở mỗi khâu trong lưu thông.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)