1. Khái niệm ký quỹ theo luật dân sự hiện nay
Để biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có độ an toàn cao, các bên có thể chọn ngân hàng giữ tài sản là đối tượng của biện pháp bảo đảm và là người "xử lý" đối tượng đó để thanh toán nghĩa vụ cho bên có quyền khi đến thời hạn mà nghĩa vụ không được thực hiện.
Khoản 1 Điều 330 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
"Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ".
Như vậy, việc ký quỹ là một hình thức để bảo đảm quyền lợi của bên có quyền, và đề phòng những trường hợp rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, hình thức bảo đảm bằng ký quý không thường xuất hiện ở các giao dịch dân sự thông thường, mà chủ yếu xuất hiện trong các dự án đầu tư kinh doanh.
Đặc điểm của việc ký quỹ là khoản vật chất bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ là tiền, kim khí, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền. Khoản vật chất này phải có sẵn, và được phong tỏa tại một tổ chức tín dụng.
2. Hình thức, chủ thể liên quan trong biện pháp ký quỹ
Hình thức và thủ tục ký quỹ phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng.
Chủ thể trong quan hệ ký quỹ bao gồm hai bên: Bên ký quỹ là bên đã gửi một lượng tài sản vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng nhất định. Bên nhận ký quỹ là bên được thanh toán, bồi thường thiệt hại từ tài khoản đó nếu nếu đến thời hạn mà bên kí quỹ không thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong ký quỹ, ngân hàng được coi là chủ thể giữ tài sản ký quỹ và có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên bị vi phạm nghĩa vụ bằng tài sản trong tài khoản ký quỹ.
3. Nội dung của ký quỹ
Với biện pháp ký quỹ, tuỳ thuộc vào từng loại hợp đồng mà một hoặc cả hai bên phải mở một tài khoản tại ngân hàng nhưng không được sử dụng tài khoản đó khi hợp đồng chưa chấm dứt. Nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì ngân hàng nơi ký quỹ dùng tài khoản đó để thanh toán cho bên có quyền. Nếu bên có quyền bị thiệt hại do bên kia không thực hiện nghĩa vụ gây ra thì ngân hàng dùng tài khoản đó để bồi thường thiệt hại. Ngân hàng có quyền thu một khoản chi phí dịch vụ ngân hàng từ tài khoản đó trước khi thực hiện việc thanh toán và bồi thường.
4. Quy định chung về ký quỹ
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ .
Theo quy định trên thì các tài sản không được sử dụng để ký quỹ bao gồm: động sản, ngoại trừ kim khí quý hoặc đá quý, bất động sản và quyền tài sản.
Đồng thòi, nếu theo đúng quy định trên thì luôn có 3 bên tham gia và giao dịch ký quỹ, đó là bên có nghĩa vụ (bên ký quỹ), bên có quyền (bên nhận ký quỹ) và tổ chức tín dụng. Thủ tục gửi và thanh toán ký quỹ được thực hiện theo quy định của pháp luật1 cũng thường có sự tham gia của các tổ chức tín dụng như ký quỹ để đi làm việc ở nước ngoài, ký quỹ để cho thuê lại lao động, ký quỹ bảo đảm dự thầu hay ký quỹ để xin giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.
Ngoài ra, ký quỹ đã từng được pháp luật quy định là một biện pháp bảo đảm hình sự, theo đó người phạm pháp phải ký quỹ một số tiền để ‘bảo đảm việc ngưdi phạm pháp ra hầu toà và việc bắt giam người ấy” (nay gọi là bảo lĩnh và đặt tiền trong tố tụng hình sự).
Đối với lĩnh vực ngân hàng thì việc ký quỹ có thể chỉ có sự tham gia của hai bên là bên ký quỹ (bên có nghĩa vụ) và bên tổ chức tín dụng (cũng đồng thời là bên có quyền và bên nhận ký quỹ, thay vì lại phải ký quỹ ở một tổ chức tín dụng khác).
Hay theo một số quy định khác thì giao dịch ký quỹ lại không nhất thiết phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng. Chẳng hạn, các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc ký quỹ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán”.
Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không bao quát được các trường hợp theo quy định của pháp luật ngân hàng và trên thực tế lâu nay là ngoài trưòng hợp ký quỹ ba bên, thì đang thừa nhận quan hệ ký quỹ chỉ có hai bên. Những vấn đề bất cập về việc ký quỹ này cũng đã được Hội đồng thẩm định dự thảo Bộ luật Dân sự tại Bộ Tư pháp kiến nghị, nhưng đã không được xử lý .
Dưới đây là ví dụ về một vụ kiện “Đòi tiền ký quỹ hợp đồng thuê tài sản” mà bên ngân hàng đồng thời là bên ký quỹ. Nếu như một trong hai bên không phải là tổ chức tín dụng thì chỉ có thể sử dụng biện pháp đặt cọc hoặc cầm cố.
Ngày 29/12/1995, Ngân hàng thương mại cổ phần K. ký hợp đồng thuê của Công ty xuất, nhập khẩu tổng hợp giao thông vận tải T. một phần điện tích ngôi nhà tại quận A., thành phố H. để làm hội sỏ; vổi thời hạn thuê là 38 năm, giá 3.000 USD/tháng, thanh toán mỗi tháng 2.000 USD và trừ 1.000 USD vào số tiền ký quỹ 400.000 USD. Nếu Ngân hàng K. tự hủy hợp đồng, thì sẽ được hoàn trả số tiền ký quỹ trong vòng 6 tháng.
Ngày 28/8/1999, Ngân hàng K. thông báo cho Công ty T. về việc chấm dứt hợp đồng và yêu cầu được hoàn trả 340.000 USD tiền ký quỹ trong thời gian 6 tháng, vì giải thể và bán lại tài sản cho Ngân hàng thương mại cổ phần V..
Bản án kinh tế sơ thẩm số 88/KTST ngày 15/5/2001 của Toà án nhân dân thành phố H. đã buộc Công ty T. phải trả cho Ngân hàng K. số tiền 340.000 USD (được quy đổi ra tiền Việt Nam).
Bản án số 47/KTPT ngày 16/10/2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao (nay là Toà án nhân dân cấp cao) tại thành phố H. đã y án sơ thẩm.
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định về quyền và nghĩa vụ của bên ký quỹ, bên nhận ký quỹ và bên tổ chức tín dụng (nơi ký quỹ) trong hợp đồng ký quỹ như sau :
Thứ nhất, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ: thanh toán theo yêu cầu của bên nhận ký quỹ trong phạm vi giá trị tài sản ký quỹ, sau khi trừ chi phí dịch vụ ký quỹ; hoàn trả tài sản ký quỹ còn lại cho bên ký quỹ sau khi trừ chi phí dịch vụ ký quỹ và số tiền đã thanh toán theo yêu cầu của bên nhận ký quỹ khi chấm dứt ký quỹ;
Thứ hai, tổ chức tín dụng có quyền: yêu cầu bên nhận ký quỹ thực hiện đúng thủ tục để được thanh toán, bồi thưòng thiệt hại; được hưỏng chi phí dịch vụ ký quỹ;
Thứ ba, bên ký quỹ có nghĩa vụ: thực hiện ký quỹ tại tổ chức tín dụng mà bên nhận ký quỹ chỉ định hoặc chấp nhận; nộp đủ tài sản ký quỹ theo đúng thỏa thuận vối bên nhận ký quỹ; thỏa thuận với tổ chức tín dụng về điều kiện thanh toán theo đúng cam kết với bên nhận ký quỹ;
Thứ tư, bên ký quỹ có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng hoàn trả tài sản ký quỹ sau khi trừ chi phí dịch vụ ký quỹ và số tiền đã thanh toán theo yêu cầu của bên nhận ký quỹ khi chấm dứt ký quỹ;
Thứ năm, bên nhận ký quỹ có nghĩa vụ thực hiện theo đúng thủ tục khi yêu cầu tổ chức tín dụng thanh toán;
Thứ sáu, bên nhận ký quỹ có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng thanh toán đầy đủ, đúng hạn.
Theo quy định của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP thì có thể hiểu, tổ chức tín dụng chỉ mồ tài khoản và thanh toán theo yêu cầu của bên nhận ký quỹ. Như vây, có thể dẫn đến tình huống, chỉ bảo đảm quyền lợi cho bên nhận ký quỹ, mà không bảo đảm quyền lợi cho bên ký quỹ, vì tổ chức tín dụng chỉ thực hiện theo yêu cầu của bên nhận hý quỹ. Vì vậy, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận khác, chẳng hạn mồ tài khoản và thanh toán theo lệnh của một trong ba bên như sau: Bên tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ tự động trích tiền từ tài khoản để thanh toán, bồi thường thiệt hại cho Bên nhận ký quỹ khi phát sinh một hoặc trong cả ba trường hợp sau đây: thứ nhất, là theo yêu cầu tại văn bản thỏa thuận của bên ký quỹ và bên nhận ký quỹ; thứ hai, là theo văn bản yêu cầu của bên ký quỹ và thứ ba, là theo vãn bản yêu cầu của bên nhận ký quỹ. Trường hợp thứ nhất thì dễ dẫn đến bế tắc nếu như hai bên không thống nhất được với nhau. Hai trường hợp còn lại thì bảo đảm quyền lợi cho bên này nhưng lại không bảo đảm quyền lợi cho bên kia. Vì vậy, các bên có thể thỏa thuận tổ chức tín dụng sẽ thanh toán theo yêu cầu của bên ký quỹ và hoặc bên nhận ký quỹ, nếu như trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức tín dụng, mà bên được thông báo không có văn bản phản đôì. Trường hợp một trong các bên phản dm, thì vụ việc có tranh chấp, nên tổ chức tín dụng sẽ chỉ thanh toán khi bên ký quỹ và bên nhận ký quỹ đã giải quyết xong tranh chấp.
5. Thông báo xử lý tài sản bảo đảm
Việc thông báo xử lý tài sản bảo đảm cần phải được lập thành văn bản. Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm có nội dung chủ yếu sau đây:
- Lý do xử lý tài sản bảo đảm;
- Tài sản bảo đảm sẽ bị xử lý;
- Thời gian, địa điểm xử lý tài sản bảo đảm.
Phương thức thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm thực hiện theo thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận thì bên nhận bảo đảm gửi trực tiếp văn bản thông báo cho bên bảo đảm hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu hoặc phương thức khác đến địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp.
Trường hợp bên bảo đảm thay đổi địa chỉ mà không thông báo cho bên nhận bảo đảm biết thì địa chỉ của bên bảo đảm được xác định theo địa chỉ đã được bên bảo đảm cung cấp trước đó, theo hợp đồng bảo đảm hoặc theo thông tin được lưu trữ tại cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm.
Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ hoặc được giữ bởi người khác thì văn bản thông báo phải được gửi đồng thời cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có) và người giữ tài sản bảo đảm.
Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ mà có nhiều bên cùng nhận bảo đảm thì ngoài phương thức thông báo quy định tại khoản 2 Điều này còn có thể thực hiện bằng phương thức đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Thời hạn thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm phải thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc thỏa thuận khác. Trường hợp không có thỏa thuận thì phải thực hiện trong thời hạn hợp lý, nhưng trước ít nhất 10 ngày đối với động sản hoặc trước ít nhất 15 ngày đối với bất động sản tính đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm, trừ trường hợp tài sản bảo đảm bị xử lý ngay theo quy định tại khoản 1 Điều 300 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp tài sản bảo đảm là chứng khoán niêm yết, hàng hóa trên sàn giao dịch hàng hóa hoặc động sản khác có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.