Bạo hành gia đình là một vấn đề xã hội nghiêm trọng, không chỉ vi phạm quyền con người mà còn gây ra những hệ lụy sâu sắc đến cấu trúc gia đình và sự phát triển của trẻ em. Trong bối cảnh ly hôn, đặc biệt khi có tranh chấp quyền nuôi con, yếu tố bạo hành gia đình trở thành một điểm mấu chốt, đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng từ phía Tòa án để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ.

Người chồng có hành vi bạo lực gia đình sẽ bị hạn chế nghiêm trọng quyền nuôi con khi ly hôn, thậm chí có thể bị tước quyền hoàn toàn. Vậy cụ thể pháp luật quy định như thế nào? Thủ tục chứng minh hành vi bạo lực ra sao? Trong bài viết này, tôi sẽ hướng dẫn chi tiết làm rõ cách thức pháp luật Việt Nam tiếp cận và xử lý vấn đề bạo hành gia đình trong các vụ án ly hôn có liên quan đến quyền nuôi con.

1. Quy định của pháp luật về quyền nuôi con khi có bạo hành gia đình

Theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi giải quyết quyền nuôi con, Tòa án phải đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em lên hàng đầu. Điều này có nghĩa việc giao con cho người nào phải đảm bảo môi trường sống an toàn, lành mạnh về thể chất và tinh thần.

Trong thực tiễn xử lý các vụ án tại Tòa án, người có hành vi bạo lực gia đình thường không được giao quyền nuôi con vì không đảm bảo môi trường nuôi dưỡng an toàn. Ví dụ, tại vụ án tôi đại diện năm 2023, người chồng dù có điều kiện kinh tế tốt hơn vẫn không được giao con vì có tiền án đánh vợ.

Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định rõ các trường hợp không được giao quyền nuôi con:

  • Có hành vi bạo lực gia đình đối với vợ/chồng hoặc con
  • Có tệ nạn xã hội nghiêm trọng
  • Mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
  • Không có điều kiện chăm sóc con

Điều đáng chú ý là luật sử dụng cụm từ "có hành vi bạo lực gia đình" chứ không yêu cầu phải có án phạt. Điều này có nghĩa chỉ cần chứng minh được hành vi đánh vợ là đủ căn cứ từ chối quyền nuôi con, ngay cả khi chưa bị kết án hình sự.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, mức độ hạn chế quyền nuôi con phụ thuộc vào:

  • Bạo lực thể xác nhẹ (cãi vã, xô đẩy): Thường bị hạn chế quyền nuôi nhưng vẫn có thể được thăm nom con theo lịch cố định.
  • Bạo lực nghiêm trọng (đánh đập gây thương tích): Tước quyền nuôi con hoàn toàn, chỉ được thăm nom có giám sát hoặc cấm thăm nom.
  • Bạo lực tâm lý (đe dọa, uy hiếp): Tùy mức độ, có thể bị hạn chế một phần hoặc toàn bộ quyền nuôi con.

2. Chứng minh hành vi bạo lực tại Toà án

Để chứng minh hành vi bạo lực gia đình của chồng, theo Điều 17 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, các tài liệu sau có giá trị pháp lý:

  • Giấy chứng nhận thương tích từ bệnh viện hoặc trung tâm pháp y
  • Biên bản ghi lời khai tại Công an phường/xã
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc khởi tố hình sự
  • Lời khai của nhân chứng (hàng xóm, người thân)
  • Bằng chứng ghi âm, ghi hình (nếu có)

Trong thực tiễn, nhiều chị em lo ngại việc tố cáo chồng. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền lợi con trẻ cần được đặt lên hàng đầu. Tôi khuyến nghị nạn nhân nên lưu giữ đầy đủ bằng chứng ngay từ lần đầu tiên bị bạo lực.

Thủ tục giám định thương tích & khởi kiện ly hôn

Bước 1: Đến cơ sở y tế giám định thương tích (trong vòng 24h nếu có thể)

Bước 2: Trình báo tại Công an phường/xã để lập biên bản vi phạm

Bước 3: Yêu cầu ban hành lệnh cấm tiếp cận nếu cần thiết theo Điều 24 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022

Bước 4: Thu thập lời khai nhân chứng và bằng chứng khác

Bước 5: Nộp hồ sơ khởi kiện ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền

3. Thủ tục ly hôn và quyền nuôi con khi bị chồng ngược đãi?

Xin chào Luật Minh Khuê! Tôi kết hôn vào cuối năm 2012, hiện nay, vợ chồng tôi đã có 2 con gái sinh vào ngày 22/07/2016 và 27/07/2018. Kể từ thời gian tôi bắt đầu mang thai đứa con thứ 2 thì vợ chồng tôi thường hay mâu thuẫn với nhau.

Trong thời gian mang bầu cũng như sau khi sinh con thứ 2, chồng tôi hay nhậu nhẹt, không quan tâm tới vợ, còn hay chửi bới xúc phạm tôi, có thái độ không tôn trọng gia đình tôi. Trong cuộc sống hằng ngày chúng tôi thường không chung quan điểm với nhau và hay xảy ra cãi cọ, bên phía gia đình chồng tôi cũng đã có nhắc đến việc sinh con trai sau khi tôi sinh 2 con gái. Tôi đã nói tới việc ly hôn và chồng tôi cũng đồng ý bảo viết đơn thì ký. Hiện nay, con đầu của tôi đang ở quê Nghệ An với bố mẹ chồng tôi, vợ chồng tôi đang làm việc tại Bình Dương. Tôi tốt nghiệp đại học ngành thực phẩm và mức thu nhập là 6 triệu đồng/tháng. Tôi muốn ly hôn và muốn được quyền nuôi 2 con thì phải làm như thế nào?

Mong sớm nhận được tư vấn từ quý công ty. Tôi xin cảm ơn!

Youtube video

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đinh gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Trong trường hợp bạn và chồng của bạn đều có ý định ly hôn và có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản và quyền nuôi con thì Tòa án sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn của vợ chồng bạn. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn và chồng bạn có tranh chấp về quyền nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ giải quyết dựa trên cơ sở khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo như bạn trình bày, hiện nay bạn có 2 con gái sinh vào ngày 22/07/2016 và 27/07/2018. Hai người con của bạn đến thời điểm này đều chưa đủ 36 tháng. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu bạn chứng minh bạn có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con thì bạn hoàn toàn có quyền nuôi con khi ly hôn với chồng. Và ngoài ra, bạn có quyền chồng của mình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo thỏa thuận giữa các bên để bạn có thể nuôi con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tiền lương thấp khi ly hôn có được giành quyền nuôi con không?

4. Ly hôn và giành quyền nuôi con khi chồng ngoại tình?

Xin kính chào công ty luật Minh Khuê, tôi muốn hỏi là: Tôi lấy chồng được hơn 2 năm và đang có 2 cháu gái được 22 tháng và 03 tháng. Do chồng tôi không quan tâm vợ con lại còn ngoại tình nên bây giờ tôi muốn ly hôn và muốn giành quyền nuôi cả hai cháu liệu có được không? Hiện tại, tôi đang nghỉ sinh, còn khi đi làm lương trung bình 6,5 triệu/tháng, lương chồng tôi 4 triệu/tháng. Mong tư vấn giúp ạ. Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình trực tuyến, gọi:1900.6162

 

Trả lời:

Về vấn đề ly hôn:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên thì khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn ly hôn đơn phương với chồng bạn.

Bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ xin ly hôn đơn phương, bao gồm những giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn đơn phương theo mẫu;

- CMND, sổ hộ khẩu photo có chứng thực của hai vợ chồng;

- Giấy đăng ký kết hôn bản chính;

- Giấy khai sinh của con bản sao có chứng thực;

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp về tài sản);

Bạn nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú. Thời gian giải quyết khoảng từ 04 tháng đến 06 tháng.

Về quyền nuôi con:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Trường hợp này, bạn có hai cháu: một cháu 22 tháng và một cháu 3 tháng do đó bạn có quyền nuôi cả hai cháu khi và chỉ khi bạn chứng minh được bản có đủ điều kiện, đủ khả năng và có thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho các con bạn, đồng thời, bạn có quyền yêu cầu chồng bạn cấp dưỡng cho các con khi chồng bạn không trực tiếp nuôi các con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chia tài sản khi ly hôn và quyền nuôi con khi ly hôn?

5. Ly hôn khi chồng vắng mặt và phân chia quyền nuôi con sau khi ly hôn?

Thưa Luật sư. Em đang trong quá trình ly hôn nhưng những lần tòa mời lên làm việc người chồng đều vắng mặt không có lí do. Em đang có 3 người con, hai đứa đầu theo mẹ, đứa cuối mới 2 tuổi. Theo luật pháp thì sẽ theo mẹ sau này nó lớn thì sẽ có quyền chọn theo ba hay theo mẹ. Nhưng người chồng lại đòi nuôi con út hiện nay mới 2 tuổi thì phải làm sao? Và người chồng không lên tòa đã hai lần, vậy hai vấn đề này Tòa sẽ giải quyết như thế nào? Em xin cảm ơn!

Ly hôn khi chồng vắng mặt và phân chia quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn Luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp chồng vắng mặt tại phiên tòa:

Khi vụ án được đưa ra xét xử, chồng bạn có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Trong trường hợp chồng bạn không tham gia phiên tòa khi được tòa án triệu tập thì xử lý theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

- Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

- Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

Theo quy định nêu trên, khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà chồng bạn vắng mặt tại phiên tòa thì vụ án ly hôn của vợ chồng bạn sẽ được Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chồng bạn. Như vậy, theo quy định của pháp luật việc chồng bạn vắng mặt dù tòa đã triệu tập thì bạn vẫn được xử lý ly hôn.

Về quyền nuôi con khi ly hôn:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn, áp dụng trường hợp này, con bạn hiện tại 2 tuổi, do đó, con sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Bên cạnh đó, chồng bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vợ vắng mặt tại phiên tòa có giải quyết vụ án ly hôn không?

Câu Hỏi Thường Gặp

Chồng đánh vợ một lần có mất quyền nuôi con không?

Có, ngay cả một lần bạo lực cũng có thể là căn cứ từ chối quyền nuôi con. Theo Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, pháp luật không quy định về số lần mà chỉ cần "có hành vi bạo lực gia đình". Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét mức độ nghiêm trọng và khả năng tái phạm khi đưa ra quyết định cuối cùng.

Làm thế nào để chứng minh bạo lực tâm lý, không phải đánh đập?

Bạo lực tâm lý có thể chứng minh qua ghi âm, tin nhắn đe dọa, lời khai nhân chứng. Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 định nghĩa bạo lực gia đình bao gồm "làm tổn hại về tinh thần". Bạn cần lưu giữ bằng chứng về các lời nói đe dọa, uy hiếp và tác động tâm lý của chúng đến bản thân và con.

Con muốn ở với bố có hành vi bạo lực thì sao?

Tòa án sẽ cân nhắc ý kiến của trẻ nhưng ưu tiên an toàn trẻ em. Theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, ý kiến của trẻ từ 9 tuổi trở lên được tham khảo nhưng không phải yếu tố quyết định duy nhất. Nếu việc ở với bố có nguy cơ gây tổn hại, Tòa án vẫn có thể từ chối.

Chồng có tiền án bạo lực gia đình được thăm con không?

Tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm và quyết định của Tòa án. Điều 87 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cho phép hạn chế quyền thăm nom nếu có nguy cơ tổn hại đến trẻ. Thăm nom có thể được thực hiện có giám sát tại địa điểm an toàn hoặc hoàn toàn bị cấm trong những trường hợp nghiêm trọng.

Bạo lực gia đình có ảnh hưởng đến quyền thừa kế của con không?

Không, quyền thừa kế của con không bị ảnh hưởng bởi hành vi bạo lực của cha. Theo Luật Thừa kế 2023, con vẫn là người thừa kế hàng thứ nhất bất kể tình trạng hôn nhân của cha mẹ. Tuy nhiên, nếu chính con bị cha bạo lực thì có thể bị tước quyền thừa kế theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015.

Kết luận

Bạo lực gia đình là vấn đề nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến vợ chồng mà còn tác động sâu sắc đến tương lai của con trẻ. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi tốt nhất của trẻ em bằng cách hạn chế quyền nuôi con đối với người có hành vi bạo lực gia đình.

Nếu bạn đang trong tình huống tương tự và cần tư vấn cụ thể cho hoàn cảnh của mình, hãy liên hệ tổng đài 1900.6162 để gặp luật sư. Chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ với sự bảo mật tuyệt đối và hiểu biết sâu sắc về luật pháp Việt Nam.