1. Vài nét về Antoine Augustin Cournot

Antoine Augustin Cournot (28 tháng 8 năm 1801 - 31 tháng 3 năm 1877) là nhà triết học và toán học người Pháp, người cũng đóng góp vào sự phát triển của kinh tế học .

Antoine Augustin Cournot sinh ra tại Grey, Haute-Saône. Năm 1821, ông vào một trong những Grande École danh giá nhất, École Normale Supérieure và theo Sandmo: năm 1823, Cournot lấy bằng toán học tại Đại học Sorbonne. Sau đó, ông trở thành thư ký riêng của một thống chế, người cần sự hỗ trợ trong việc viết hồi ký của ông. Vị trí này khiến Cournot có thời gian đáng kể cho việc theo đuổi của riêng mình, vì trong mười năm đảm nhiệm chức vụ thống chế, ông đã lấy hai bằng tiến sĩ, một về cơ học và một về thiên văn học. Ngoài ra, ông còn xuất bản một số bài báo và thậm chí còn có bằng luật.

Sau đó, Cournot giữ chức vụ giáo sư toán học, giám khảo chính cho sinh viên đại học, và hiệu trưởng Học viện Dijon. Vào thời điểm Cournot qua đời năm 1877, ông gần như bị mù.

Cournot chủ yếu là một nhà toán học, nhưng đã có một số ảnh hưởng đến kinh tế học. Các lý thuyết của ông về độc quyền và duopolies vẫn còn nổi tiếng.

2. Mô thức vi mô của Cournot

Cournot hướng mô hình này vào trong sự hình thành vô số mô thức về hành vi doanh nghiệp dựa trên đường cong cầu. Chúng ta sẽ xét hai trong số các mô thức này: (1) mô thức độc quyền và (2) mô thức độc quyền song mại (hai người bán). Lúc ấy được đánh giá là những đóng góp quan trọng nhất của Cournot.

3. Mô thức độc quyền

Trong Chương 5 của Researches, Cournot chuyển sang phân tích tối đa hóa lợi nhuận của nghiệp chủ nước khoáng vừa phát hiện mình sở hữu nguồn nước trong lành mà người khác chưa biết. Việc kinh doanh một lít nước có thể mang về 100 quan, nhưng như Cournot chứng minh độc quyền không phải trả giá cao nhất mà anh ta có thể trả đối với nước. Đúng ra, anh ta sẽ điều chỉnh giá cả sao cho tối đa hóa khoản thu nhập ròng. Cournot chứng minh bằng toán học rằng, trong trường hợp phí tổn bằng 0, độc quyền sẽ tối đa hóa thu nhập gộp. Cho rằng hàm cầu D = F(p) và cũng cho rằng đường cong cầu luôn là dóc âm (nghĩa là dD/dp \ 0), thì nghiệp chủ sẽ điều chỉnh p sao cho tổng thu nhập, pF(p), ở mức tối đa. Cournot chứng minh điều này xảy ra khi phí tổn biên tế bằng thu nhập biên tế (hay khi đường dốc của hàm lợi nhuận, TT=TR -TC, bằng 0). Trong trường hợp phí tổn bằng 0, thì sự tối đa xuất hiện khi thu nhập biên tế bằng 0.

Nghiệp chủ (phí tổn bằng 0) sẽ điều chỉnh doanh số nước khoáng của mình ở mức anh ta chỉ bán số lượng Qn với giá Pnở số lượng Qn cộng vào tổng thu nhập (thu nhập biên tế) bằng với phần cộng thêm vào tổng.

Trong tình huống phí tổn bằng 0, doanh nghiệp sẽ bán Qn ở giá Pn. Với phí tổn dương, thì số lượng Qc sẽ bán ra với giá Pc theo nguyên tắc biên tế. Lưụ ý ở giá Qc, hàm lợi nhuận pự ở mức tối đa phí tổn (phí tổn biên tế). Nghĩa là, MR = MC ở số lượng Qn. Nhưng theo cách thay thế và cũng tương đương, nghiệp chủ có phí tổn bằng 0 hoàn toàn tối đa hóa tổng thu nhập như nhìn thấy ở số lượng Qn trong Hình 12-lồ. Trong trường hợp phí tổn bằng 0, đường cong R trở thành hàm lợi nhuận p0.

Mô thức độc quyền của Cournot về nghiệp chủ nước khoáng bị đè nặng bởi phí tổn sản xuất dương rõ ràng cho thấy “nguyên tắc biên tế”, vốn là nguyên tắc tổ chức chính của thuyết kinh tế học. Muốn giải bài toán dưới dạng câu hỏi, khi nào độc quyền đối mặt với phí tổn sản xuất, anh ta phải trả giá nào và anh ta phải bán ra với số lượng nào để tối đa hóa lợi nhuận? Cournot giải quyết theo cách dễ hiểu. Cứ cho rằng ỘC D) bằng với phí tổn làm ra một số lít tương đương với D, thì phương trình lợi nhuận của Cournot sẽ là 71 = pf(p)-ộ(d ). Sự tối đa hóa lợi nhuận yêu cầu đường dốc của hàm lợi nhuận bằng 0 hay theo ký hiệu của Cournot, D + dD/dp{p-d[0(D)]/dD}=O. Nói dễ hiểu hơn, sự tối đa hóa lợi nhuận diễn ra khi MR - MC = 0. Như Cournot viết:

“Cho dù sự dồi dào nguồn sản xuất đến đâu đi nữa thì nhà sản xuất luôn dừng lại khi chi phí gia tăng vượt quá sự gia tăng trong thu nhập” (Mathematical Principles, trang 59).

Cournot cho rằng lợi nhuận ở mức cao nhất khi MR = MC. Sản lượng làm ra sẽ là Qc, và giá sẽ là Pc, ngoài ra, Qc sẽ thấp hơn còn Pc sẽ cao hơn trong trường hợp phí tổn bằng 0. Theo cách thay thế, thuyết độc quyền của Cournot có thể giải thích, tái tạo tổng phí tổn, tổng thu nhập và hàm lợi nhuận liên quan đến nghiệp chủ nước khoáng. Nghiệp chủ sẽ ngừng sản xuất sản phẩm ở Qc, nơi hàm lợi nhuận Pj ở mức cao nhất (Cournot tính đến điều kiện thứ hai - khi độ dốc của hàm lợi nhuận bằng 0 ở Qc và mặt khác sự sụt giảm lợi nhuận hoặc tăng hoặc giảm về số lượng). Lưu ý rằng nước khoáng không hoạt động đến mức lợi suất gộp tối đa ở Qn nhưng sẽ tối đa thu nhập tịnh ở Qc. Bạn đọc am hiểu hình học sẽ xác định rằng ở Qj độ dốc của hàm TC bằng với độ dốc của hàm hay MC = MR. Sự phát triển thuyết độc quyền của Cournot tóm lại so sánh thuận lợi nhất so với tất cả thuyết của các tác giả hiện đại, vì thuyết của Cournot mà các tác giả hiện đại viết về độc quyền mới phát triển chính xác.

4. Phân tích độc quyền song mại của Cournot

Có lẽ thuyết nổi tiếng nhất do Cournot phát triển liên quan đến việc giới thiệu thêm một người bán nước khoáng. Trong quan niệm lý thuyết ban đầu, Cournot đặt nền tảng cho nhiều quan niệm khác về tầm quan trọng của kinh tế học, chẳng hạn sự cạnh tranh không hoàn toàn và lý thuyết trò chơi. Mặc dù thuyết độc quyền song mại (hai người bán) của Cournot sau này thay đổi và cải thiện (đáng kể nhất là do người Anh Francis Y. Edgeworth và nhà toán học Pháp Joseph Bertrand), nhưng không có gì làm mất đi tầm nhìn độc đáo và sắc nét của ông.

Cournot xem hai người bán, A và B, cả hai đều biết đường cong tổng cầu (tổng hợp) đối với sản phẩm hoàn toàn đồng nhất của họ là nước khoáng. Mặt khác, họ hoàn toàn không am hiểu về chính sách của nhau, đến mức độ mà A nghĩ rằng B sẽ duy trì số lượng của mình bất biến cho dù A có làm gì đi nữa, và B cũng nghĩ tương tự về số lượng bán ra của A. Ngoài ra, Đường cong phản ứng của A mô tả mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận dành cho A căn cứ vào mỗi mức sản lượng mà B chọn. Vì thế khi B chọn để sản xuất b0 A sẽ tối đa hóa lợi nhuận bằng cách sản xuất a0 cả hai người bán đều tiếp tục giả định cho dù có kinh nghiệm nhiều đến đâu đi nữa thì họ phải đi đến mâu thuẫn. Theo nghĩa của song mại độc quyền, giả định này gọi là hiến động phỏng đoán bằng không nghĩa là phỏng đoán rằng B không có phản ứng về sản lượng đối với hoạt động của A. Cournot cho rằng hoặc là A hoặc là B có thể cung cấp tất cả sản lượng nước khoáng, và hơn nữa, sản xuất nước khoáng với phí tổn bằng 0. Ông phân tích vấn đề sản lượng và xác định giá bằng toán học và đồ thị trong Researches, nhưng thảo luận của chúng ta sẽ theo nghĩa đồ thị.

Để phân tích vấn đề song mại độc quyền, Cournot phát triển một công cụ phân tích đồ thị mới, đường cong phản ứng.

Sản lượng của doanh nghiệp A sẽ chọn để để tối đa hóa lợi nhuận, căn cứ sự chọn lựa sản lượng của B. Ví dụ, nếu B chọn sản lượng Obtý A - để tối đa hóa lợi nhuận, B tạo ra số lượng Obj, A sẽ được dẫn dắt bằng động cơ tối đa hóa lợi nhuận để sản xuất một số lượng Oa1 thấp hơn và cứ thế đối với tất cả số lượng mà B sản xuất ra. Cho dù B có chọn số lượng nào đi nữa, A nghĩ rằng điều này sẽ thường xuyên, vì thế A hành động để tối đa hóa lợi nhuận của mình.

Bắt đầu ở điểm J (khi sản lượng của B là b0), mũi tên mô tả sự phát triển đường đi đến sự cân bằng ổn định (điểm E) thông qua những điều chỉnh sản lượng liên tiếp nhau của A và B.

A và B sẽ kiên trì theo đuổi sản xuất với số lượng nào? Rõ ràng, vấn đề không thể giải quyết mà không thêm phản ứng của B’ biểu thị loại phản ứng mà B có đối với sản lượng của A. Hai hàm phối hợp trong Hình 12-3 nơi hàm phản ứng của B được xác định theo cùng cách tương tự của A như trên.

Giả sử B quyết định sản xuất một số sản lượng - nghĩa là Obo - theo giả định rằng A sẽ duy trì sản lượng ở mức Oao. B lúc đó sẽ tối đa hóa lợi nhuận của mình ở sản lượng Obo. Dựa trên giả định rằng B sẽ duy trì sản lượng ở mức Obo, A sẽ tối đa hóa lợi nhuận bằng cách sản xuất sản lượng Oar Thay đổi như thế sẽ làm cho B đánh giá lại tình hình và gia tăng sản lượng của mình lên Obj, tối đa hóa lợi nhuận của mình dựa trên giả định rằng A sẽ duy trì sản lượng ở Oar. Tuy nhiên, giả định chứng tỏ không có cơ sở (mặc dù B hay A được cho là không bao giờ nắm được), và tiến trình biến động sản lượng để tối đa hóa lợi nhuận diễn ra như theo hướng mũi tên.

Điểm E tượng trưng một giải pháp cân bằng đối với các doanh nghiệp A và B, nghĩa là một giải pháp mà họ luôn quay trở lại nếu đi quá xa. ở điểm E cả hai nhà độc quyền song mại đều chia sẻ lợi nhuận (Cournot diễn đạt số lượng này bằng toán học) và phải trả một giá bình thường thấp hơn giá đạt được trong độc quyền đơn giản (một thực tế mà bản thân Cournot lưu ý) mà còn cao hơn giá phải trả trong cạnh tranh với nhiều người bán khác. Cournot nhanh chóng chỉ ra sự câu kết giữa hai đối thủ sẽ tạo ra sản xuất với số lượng độc quyền và sự chia hai lợi nhuận độc quyền. Nhưng Cournot diễn đạt sản lượng song mại độc quyền thật chính xác: có thể là 2/3 sản lượng sản xuất ra nếu thị trường cạnh tranh. Thực ra, sự diễn đạt chung chung của ông về sản lượng là 71/ti + 1 nhân với sản lượng cạnh tranh. Vì thế nếu có năm người bán, số lượng bán ra sẽ là 5/6 sản lượng cạnh tranh. Nếu có 2000 người bán, sản lượng rõ ràng sẽ đến gần số lượng cạnh tranh. Theo cách này Cournot liên hệ thuyết song mại độc quyền của mình với mô thức cạnh tranh.

5. Những đóng góp của Cournot

Ngoài thuyết song mại độc quyền, Cournot cung cấp nhiều hiểu biết sâu sắc quan trọng về lý thuyết khác, trong số này là (1) phát biểu rõ ràng về mô thức cạnh tranh đơn giản, (2) mô thức rất tiến bộ gồm nhu cầu ghép và xuất phát (đối với đồng và kẽm để sản xuất đồng thau), và (3) cuối cùng chứ không phải là hết, sự thảo luận đang phát triển mạnh về tính ổn định của nhiều sự cân bằng kinh tế khác nhau, nghiên cứu khả năng của những biến đổi nhẹ về số lượng và giá cả. Tóm lại, sách của Cournot đầy ắp những tư tưởng mới.

Sự đóng góp của Cournot đối với phương pháp và thuyết song mại độc quyền vẫn còn chi phối sự chú ý của các nhà lý thuyết. Và những quan điểm này nhất là những quan điểm liên quan đến song mại độc quyền đều bị một số chỉ trích. Edgeworth và Bertrand chắp vá với mô hình song mại độc quyền của Cournot, thay đổi nhiều trong số các giả định của ông. Ví dụ, tại sao một người song mại độc quyền như thế nghiên cứu về số lượng và không phải là giá cả của đối thủ không đổi? Sâu sắc hơn. A (chẳng hạn) có thể tiếp tục giả định rằng sản lượng của B sẽ vẫn không đổi ra sao mặc dù chứng cứ lặp đi lặp lại trái lại? Có giới hạn nào về sản lượng đối với hay cả hai nhà song mại độc quyền? Và v.v...

Phần lớn những vấn đề này đã được giải quyết, dĩ nhiên, đây là một bộ phận của sự tưởng tượng liên tục của mô thức Cournot cho rằng giải pháp của một vấn đề đưa ra thêm hai vấn đề nữa. Mô thức độc quyền thiểu số bán, mặc cả song phương, và giả định thay thê' liên quan đến biến động phỏng đoán trong lý thuyết trò chơi hiện đại được đề xuất giông mô thức Cournot. Mô thức đơn giản của ông, và tiếp tục trở thành nguồn gốc của nhiều tư tưởng trong thuyết kinh tế. Những quan điểm tác động như thế chắc chắn đặt ông trong số hàng ngũ những nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu. Nhưng thậm chí nhiều hơn nữa, Cournot có một tầm nhìn rộng lý thuyết kinh tế sẽ như thế nào - một hộp công cụ, có nguồn gốc từ chủ nghĩa thực nghiệm, sẽ hình thành những nguyên lý tổ chức trong phân tích vô số các vấn đề kinh tế. Sự nhận thức này, bị những người cùng thời với ông xao lãng, mang ông đến đỉnh điểm thành tựu hiếm có ai đạt đến trong lịch sử lý thuyết kinh tế.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)