1. Cuộc đời Böhm-Bawerk

Eugen Böhm-Bawerk là người thứ ba trong những người sáng lập phái kinh tế học Vienna. Nhiều tác phẩm của Böhm-Bawerk đã đặt ông vào hàng ngũ các lý thuyết gia về vốn, thậm chí một số người còn đánh giá ông là nhà lý thuyết về vốn hàng đầu. Chắc chắn tác động của ông đối với các lý thuyết gia Tân cổ Điển và hậu Tân cổ Điển, như Knut Wicksell và Friedrich Hayek, đều vô cùng quan trọng. Nhưng Bohm-Bawerk có được nhiều thành tựu đa dạng ngoài vai trò của một người phát triển chính lý thuyết về vốn của Áo.

Sinh ở Brunn, Áo năm 1851, Böhm-Bawerk là con của một quan chức chính phủ cấp cao. Ông phục vụ chính phủ một thời gian ngắn sau khi tốt nghiệp khoa luật Đại học Vienna, nhưng sau đó không lâu chuyển sang nghiên cứu kinh tế học. Cùng với Wieser, Böhm-Bawerk giới thiệu công trình nghiên cứu kinh tế của mình ở Đức, nơi đây ông làm việc dưới sự dìu dắt của sử gia Đức Karl Knies. Ông được bổ nhiệm làm giáo sư kinh tế học, Đại học Innsbruck năm 1881, và hoàn thành quyển sách đầu tay, về giá trị của những giấy chứng nhận như những khẳng định trừu tượng, hợp pháp. Năm 1884, Böhm-Bawerk xuất bản tập đầu tiên trong kiệt tác gồm ba tập mang tên chung là Capital and Interest (Kapital und Kapitalzins). Tập đầu tiên mang tên History and Critique of Interest Theories (1884), tập thứ hai (chắc hẳn là quan trọng nhất) là The Positive Theory of Capi­tal (1889), và tập thứ ba là tập hợp những phụ lục dành cho lần tái bản thứ ba quyển The Positive Theory of Capital mang tên Further Essays on Capital and Interest (1909-1912). Tất cả những công trình quan trọng này đều dịch sang tiếng Anh.

Ngoài những tác phẩm của mình, Böhm-Bawerk còn nổi tiếng trong vai trò một chính khách. Năm 1889 ông được điều về Bộ tài chính với nhiệm vụ soạn thảo cải cách thuế và tiền tệ. Ông được chỉ định làm Bộ trưởng tài chính Áo lần đầu tiên năm 1895, lần thứ hai năm 1897, và lần sau cùng năm 1900. Nhiệm kỳ của ông thường mang lại sự ổn định và nhiều tiến bộ trong quản lý tài chính của Áo, một mục tiêu mà Böhm-Bawerk đạt được không phải kết hợp với bất kỳ đảng phái chính trị nào. Năm 1904, ông từ chức, tiếp tục biên soạn và giảng dạy ở Đại học Vienna.

2. Một số đánh giá về các tác phẩm của Böhm-Bawerk

Mặc dù Böhm-Bawerk là một học giả không biết mỏi mệt, tác phẩm của ông thường bị gián đoạn do các nhiệm vụ dân sự. Phần lớn đều đưa in vội vã, thật không may, điều này cũng xảy ra với quyển The Positive Theory of Capital. Vì thế tác phẩm của ông đã bị chỉ trích là không đầy đủ hay mơ hồ. Nhưng chắc chắn tác phẩm của ông không phải là khó hiểu đôi với bất kỳ người nào có vốn kiến thức chuyên môn nhất định. Nhưng ngay cả ông tỏ ra quá nhiệt tâm với tác phẩm của người thầy cũ của ông - Schumpeter - được nhắc lại để so sánh Böhm-Bawerk với Ricardo và phải nói rằng quyển Positive Theory of Capital là “một nỗ lực so sánh những thành tựu cao nhất mà kinh tế học cho phép, và thành tựu thực sự đạt đến mức độ nơi chỉ tìm thấy một vài người”.

Ảnh hưởng của Böhm-Bawerk đối với các nhà kinh tế học sau này thậm chí còn nhiều hơn cả ảnh hưởng của Menger và Wieser. Ngoài ra, nhất là trong lĩnh vực lý thuyết về vốn và tiền lãi, tiếng tăm của Böhm-Bawerk vẫn còn. Nhiều lý thuyết gia về vốn thời đương đại nghĩ rằng, không phải là không có sự biện minh, rằng lý thuyết về vốn Tân cổ Điển có cội nguồn từ Böhm-Bawerk. Cho dù giá trị của những quan điểm trái ngược đến đâu đi nữa, thì chắc chắn Böhm-Bawerk vẫn là ứng viên đáng giá trong nghiên cứu của chúng ta về lịch sử phân tích kinh tế. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về lý thuyết về vốn và tiền lãi của ông.

3. Lý thuyết về vốn

Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của Böhm-Bawerk là đưa sự đánh giá thời gian vào phân tích kinh tế. Tiền đề chính và đơn giản của ông là sản xuất hàng hóa (tiêu dùng) thành phẩm phải cần thời gian và phương pháp theo đường vòng trong việc sản xuất những hàng hóa này phải mang tính sản xuất nhiều hơn là phương pháp trực tiếp. Mặc dù phương pháp theo đường vòng hiệu quả hơn (một thuận lợi), nhưng cũng cần đến nhiều thời gian (một bất lợi).

Quan điểm của Böhm-Bawerk là phương tiện sản xuất ban đầu (nguyên liệu thô, tài nguyên, lao động) có thể sử dụng trong sản xuất trực tiếp (chẳng hạn như Robinson Crusoe đã làm) hay có thể dùng để sản xuất ra vốn (mà ông gọi là “phương tiện sản xuất”, khi được tích lũy và kết hợp với lao động, sẽ sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng, Böhm-Bawerk cho rằng phương pháp sau hiệu quả hơn, ngoài ra, ông cũng cho rằng kỳ sản xuất càng dài (nghĩa là phương pháp đòi hỏi tập trung nhiều vốn và theo đường vòng nhiều hơn) thì tổng sản phẩm sẽ cao hơn. Bản thân thời gian trở thành một đầu vào, và độ dài của kỳ sản xuất hàng tiêu dùng bản thân là một biến số.

>> Xem thêm:  Đức trị là gì ? Khái niệm đức trị được hiểu như thế nào ?

Điều gì xảy ra khi kỳ sản xuất kéo dài? Nói cách khác, tại sao Böhm-Bawerk lập luận rằng kỳ dài hơn lại hiệu quả hơn? Khi kỳ sản xuất kéo dài, vốn sử dụng nhiều hơn, tỉ lệ vốn đối với lao động tăng, và sản lượng sau cùng được gia tăng, bất kể tỉ lệ đang giảm dần.

4. Kỳ sản xuất không liên tục

Böhm-Bawerk xem kỳ sản xuất không liên tục với độ dài thay đổi, trong khi kỳ sản xuất cổ Điển mang tính không liên tục mà còn có độ dài cố định. Mặc dù yếu tố quyết định trực tiếp độ dài của kỳ sản xuất trong mô thức Böhm-Bawerk cũng giống như thuyết quỹ-lương cổ Điển, nhưng Böhm-Bawerk tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ lãi suất, vốn là yếu tố quyết định chính khuôn khổ quỹ lương đủ sống. Trước khi chuyển sang mối quan hệ này, điều quan trọng chúng ta nghiên cứu vấn đề chính gặp phải trong phát biểu của Böhm-Bawerk về kỳ sản xuất.

Mô thức kỳ sản xuất của Böhm-Bawerk mang đặc điểm các đầu vào liên tục và đầu ra điểm. Nghĩa là, đầu vào được bổ sung thành luồng, nhưng đầu ra “chín muồi” ở một số điểm riêng biệt trong thời gian, vấn đề quan trọng là những phát sinh trực tiếp liên quan đến độ dài của kỳ sản xuất, ở một điểm Böhm-Bawerk cho rằng phải sử dụng kỳ sản xuất tuyệt đối. Vấn đề chính với việc sử dụng này chẳng bao lâu sẽ trở thành hiển nhiên. Ví dụ, cứ cho rằng một đầu ra điểm được sản xuất hôm nay là một ly uống nước bằng bạc. Thế kỳ sản xuất tuyệt đối là gì? Có thể hình dung, đầu vào bạc dùng để sản xuất ly uống nước có thể khai thác từ thời La Mã. Khái niệm xác định kỳ sản xuất đối với bất kỳ đầu vào điểm cũng thật buồn cười.

Böhm-Bawerk đề nghị một tiếp cận thay thế, kỳ sản xuất bình quân, trong đó đầu vào được cân nhắc theo quan hệ gần với đầu ra điểm. Đầu vào được cân nhắc theo số kỳ sử dụng, và tổng những đầu vào được cân nhắc này lúc ấy chia ra bởi số đầu vào để có được kỳ sản xuất bình quân.

Thật không may, tiếp cận thứ hai của Böhm-Bawerk có một số khiếm khuyết nghiêm trọng.Thứ nhất, đầu vào hoàn toàn không đồng nhất và Böhm-Bawerk không đưa những cung cấp để khiến chúng trở thành ngoại lệ như thế trong giả định của ông. Thứ hai, và có lẽ quan trọng hơn, có vấn đề trong việc chỉ định tầm quan trọng của “kỳ thích hợp. Có phải đầu ra có thể quy cho những đầu vào gần đây hơn hay đối với đầu vào trong quá khứ xa hơn hay không? Mặc dù những vấn đề này là nghiêm trọng, Böhm-Bawerk vẫn bảo lưu giả định về kỳ sản xuất bình quân như một kiềm chế lý thuyết có thể thực hiện.

5. Lãi suất

Đóng góp khác của Böhm-Bawerk là giải thích của ông về lãi suất. Ông xem tiền lãi như sự thanh toán khi sử dụng vốn, còn vốn như chúng ta đã hiểu chỉ có nghĩa là sản phẩm trung gian (nghĩa là theo đường vòng). Vì việc theo đường vòng thường có nghĩa là thời gian tham gia sản xuất dài hơn, vì thế tiền lãi phải liên quan đến thời gian theo một cách logic. Böhm-Bawerk đặt nền tảng của thuyết tiền lãi của mình dựa trên Sự thiên vị thời gian tích cực: đề xuất cơ bản cho rằng hàng hóa hiện tại đáng giá hơn hàng kỳ hạn. Ông cho rằng ba “bằng chứng” cho đề xuất cơ bản này.

Nguyên nhân thứ nhất có thể gây ra sự khác biệt về giá trị giữa hàng hiện tại và hàng kỳ hạn bắt nguồn từ tính chất cấp bách của nhu cầu hiện tại. Như Böhm-Bawerk lưu ý, chúng ta không phải không quan tâm đến tương lai nhưng hiện chúng ta đang sống trong hiện tại. Nhu cầu tương lai hầu như lúc nào cũng được nhận thức ít cấp bách hơn nhu cầu trước mắt. Nói chung, con người tìm thấy chính mình thuộc một trong hai tình huống này. Những ai trong hiện tại được cung cấp không tốt bằng tương lai sẽ đánh giá hàng hiện tại có giá trị hơn. Những ai nhận thấy trong hiện tại được cung cấp tốt hơn thì chắc chắn sẽ nghĩ trong tương lai vẫn còn nhiều yêu cầu đối với hàng kỳ hạn bằng sự sở hữu hàng hiện tại (nhất là tiền) mà họ tích trữ để dành cho tương lai.

Nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự khác biệt giữa hàng hiện tại và kỳ hạn là con người đánh giá không đúng theo hệ thống rằng nhu cầu tương lai và biện pháp để thỏa mãn chúng. Ở đây lập luận của Böhm-Bawerk dựa vào ba hệ luận: (1) vì chúng ta không thể biết tương lai với sự chắc chắn, hình ảnh tưởng tượng mà chúng ta hình thành về nhu cầu tương lai của mình lúc nào cũng phân mảnh và không đầy đủ, (2) hầu hết mọi người đều thiếu ý chí nói chung - khi đối mặt với sự lựa chọn giữa “lúc này” và “lúc đó”, một ít hoãn sự hài lòng trước nhu cầu hiện tại và (3) căn cứ vào sự không chắc chắn và đoản mệnh của đời sống con người, người ta thường không muốn hoãn lại điều gì mà họ không bao giờ thụ hưởng.

>> Xem thêm:  Thuyết khế ước xã hội là gì ? Tìm hiểu về thuyết khế ước xã hội

Nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự khác biệt giữa hàng hiện tại và kỳ hạn là tính ưu việt kỹ thuật của hàng hiện tại so với hàng kỳ hạn như một biện pháp thỏa mãn nhu cầu con người. Hệ luận này dựa vào nguyên tắc theo đường vòng được Böhm-Bawerk hình thành sớm hơn, đơn thuần thừa nhận hàng hiện tại (kể cả tiền) có thể đưa vào sản xuất sớm hơn hàng kỳ hạn, sao cho lưu lượng sản xuất sẽ xuất hiện từ sản phẩm trung gian lúc nào cũng lớn hơn nếu bắt đầu ngay hiện tại hơn là bắt đầu trong một thời điểm nào đó trong tương lai.

Trong số ba nguyên nhân này, Böhm-Bawerk nhấn mạnh nhiều đến nguyên nhân thứ ba mà ông khẳng định là độc lập với hai nguyên nhân kia, ngoài ra có khả năng giải thích sự thiên vị thời gian tích cực. Phương pháp sản xuất mở rộng luôn hiệu quả hơn phương pháp sản xuất kém mở rộng, trong đó là tính ưu việt kỹ thuật của hàng hiện tại. Từ thảo luận chung này, chỉ một bước khá ngắn là đến quan điểm cho rằng lãi suất là tiền chênh lệch mà con người phải trả cho hàng hiện tại hơn là hàng kỳ hạn. Từ quan điểm của người cho vay, dĩ nhiên tiền lãi là sự đền bù cần thiết để hoãn lại sự hưởng thụ cao hơn bằng hàng hiện tại. Cũng đáng lưu ý rằng lý thuyết tiền lãi và vốn của Böhm-Bawerk có cội rễ bám sâu vào chủ nghĩa chủ quan trong lý thuyết giá trị Áo nói chung. Thật ra, chính trên cơ sở này ông đã cách biệt khá xa với cách tiếp cận cổ Điển đối với chủ đề. Với một vài ngoại lệ đáng lưu ý (như Lauderdale và Senior), lý thuyết kinh tế Cổ Điển xử lý vốn như một điều phụ thuộc vào lao động vì bản thân nó là sản phẩm của lao động. Quan điểm này (cũng được Karl Marx ủng hộ cực đoan) chứng tỏ là trở ngại chính đối với sự tiến bộ phân tích có ý nghĩa trong lý thuyết về tiền lãi. Khuyết điểm của lý thuyết tiền lãi cổ Điển là không thừa nhận vốn mang tính sản xuất ngoài lao động ra. Senior nhận thấy sai sót trong lập luận này, nhưng ông vẫn giữ quan điểm của một nhà kinh tế học cổ Điển bằng cách bao bọc quan điểm mới của mình trong lý thuyết giá trị phí tổn sản xuất. Vì thế, Böhm-Bawerk, người cho rằng Senior đảo lộn một số quan điểm sai lầm về vốn và tiền lãi, cũng phê bình ông vì xem nhẹ sự thiên vị thời gian và phí tổn cơ hội, hai nền tảng của tân chủ nghĩa chủ quan. Trong phân tích sau cùng, Böhm-Bawerk dù sao cũng sử dụng cơ sở của Senior để xây dựng một lâu đài mới hơn là loại bỏ mọi quan điểm trong quá khứ để xây mới hoàn toàn.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Quyền lực chính trị là gì ? Quy định về quyền lực chính trị

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Lãi suất được định nghĩa là gì?

Trả lời:

Lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của số tiền cho vay mà người cho vay tính lãi đối với người đi vay, thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm hàng năm. Đây là mức phí mà ngân hàng hoặc người cho vay khác tính để vay tiền của mình, hoặc mức mà ngân hàng trả cho người tiết kiệm để giữ tiền trong tài khoản.

 

Câu hỏi: Yếu tố nào ảnh hưởng đến lãi suất?

Trả lời:

Lãi suất thay đổi theo:

- Các chỉ thị của chính phủ đối với ngân hàng trung ương để hoàn thành các mục tiêu của chính phủ

- Đơn vị tiền tệ của số tiền gốc đã cho vay hoặc đi vay

- Thời hạn đến ngày đáo hạn của khoản đầu tư

- Xác suất mặc định được nhận thức của người đi vay

- Cung và cầu trên thị trường

- Số lượng tài sản thế chấp

- Các tính năng đặc biệt như điều khoản cuộc gọi

- Điều kiện kín

- Bù đắp sự cân bằng

cũng như các yếu tố khác.

Câu hỏi: Lãi suất danh nghĩa là gì?

Trả lời:

Các lãi suất danh nghĩa là lãi suất không có điều chỉnh cho lạm phát.

Ví dụ: giả sử ai đó gửi 100 đô la vào ngân hàng trong 1 năm và họ nhận lãi 10 đô la (trước thuế), vì vậy vào cuối năm, số dư của họ là 110 đô la (trước thuế). Trong trường hợp này, bất kể tỷ lệ lạm phát, lãi suất danh nghĩa là 10% / năm (trước thuế).