1. Nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái được quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con cái được quy định như sau:

- Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

- Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

- Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, tại Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016 cũng có quy định về một số hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em, cụ thể như sau:

 - Tước đoạt quyền sống của trẻ em.

- Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

- Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.

- Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.

- Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.

- Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.

- Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

- Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc Điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.

- Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.

- Cung cấp dịch vụ Internet và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

- Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em.

- Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để trục lợi.

- Đặt cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ.

- Lấn chiếm, sử dụng cơ sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí và hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ em sai mục đích hoặc trái quy định của pháp luật.

- Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, điều trị trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.

Theo đó, hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em cũng chính là một trong những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm thực hiện. Do đó, nếu cha, mẹ người sinh ra đứa bé có hành vi vứt bỏ con mình thì sẽ có những chế tài xử lý cụ thể.

2. Mang con đẻ đi khai báo là trẻ bị bỏ rơi, người mẹ bị xử phạt hành chính không?

Căn cứ vào Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016 thì bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em có thể được hiểu là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.

Từ đó, có thể thấy đối với hành vi mẹ mang con đẻ đi đến cơ quan chính quyền khai báo là trẻ bị bỏ rơi đã có sự thể hiện về việc người mẹ đang tiến hành hoạt động bỏ mặc đứa trẻ. Bởi lẽ, khi mang đứa trẻ khai báo là trẻ bị bỏ rơi sẽ đồng nghĩa với việc người mẹ đang chối bỏ hết trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc với đứa trẻ này, dù thực tế đây là con ruột của người mẹ này. Điều này không khác gì hành vi bỏ rơi, bỏ mặc đứa trẻ em được quy định là một trong những điều cấm trong Luật Trẻ em năm 2016.

Căn cứ vào Điều 21 Nghị định 130/2021/NĐ-CP thì việc xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em được hướng dẫn như sau:

- Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em thực hiện một trong các hành vi sau đây:

+ Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em trừ trường hợp bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em hoặc trẻ em được chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật;

+ Cha mẹ, người chăm sóc trẻ em không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, không thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em hoặc bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, cắt đứt quan hệ tình cảm và vật chất với trẻ em hoặc ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, trừ trường hợp bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em hoặc trẻ em được chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, đối với cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có hành vi cố ý bỏ rơi trẻ em thì sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt hành chính là phạt tiền với mức phạt là từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.

3. Người mẹ mang con đi khai báo là trẻ bị bỏ rơi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Việc người mẹ mang con đẻ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khai báo là trẻ bị bỏ rơi được xác định là dấu hiệu của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em - một trong những hành vị bị nghiêm cấm đối với trẻ em. Tuy nhiên, nếu hành vi bỏ rơi trẻ em này dẫn đến hậu quả là đứa trẻ bị chết thì người mẹ có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, theo Điều 124  Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì nếu có đầy đủ các điều kiện dưới đây thì người mẹ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ:

- Đứa bé không lớn hơn 07 ngày tuổi;

- Người mẹ do bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt;

- Giết con do mình đẻ ra hoặc vứt bỏ con do mình đẻ ra dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết.

Tuy nhiên, nếu đứa bé lớn hơn 07 ngày tuổi hoặc người mẹ không do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà thực hiện hành vi này thì sẽ không bị truy cứu về tội danh trên mà có thể sẽ bị truy cứu hình sự về Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Và nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ thì người mẹ sẽ bị áp dụng một trong các hình phạt sau để chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm của mình:

- Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm;

- Phạt tù có thời hạn, trong đó, thời hạn tù cao nhất lên đến 03 năm.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau: 

Tội giết con mới đẻ theo quy định mới nhất năm 2023?

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. 

Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Nguyễn Thị Phương qua số điện thoại: 0985465912. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.