1. Khái niệm tư pháp quốc tế:

Luật thực định của Pháp không trực tiếp đưa ra khái niệm về tư pháp quốc tế, mà thông qua nghiên cứu của các học giả nổi tiếng, thì tư pháp quốc tế được hiểu là «một ngành luật nghiên cứu về việc giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, ở đó hiện diện ít nhất một yếu tố nước ngoài như: các bên hoặc có quốc tịch khác nhau, hoặc cư trú trên lãnh thổ của các nước khác nhau, hoặc bị ràng buộc bởi các cam kết được thực hiện tại một nước khác với nước mà họ đang cư trú».

 Xét cả về lý thuyết và thực tiễn áp dụng pháp luật của các tòa án Pháp, thì có 2 vấn đề chính mà tư pháp quốc tế phải giải quyết, đó là:

- Xung đột về lựa chọn cơ quan tài phán. Vấn đề này lại được phân chia thành 2 chủ đề nhỏ, đó là thẩm quyền của tòa án (tranh chấp sẽ được giải quyết tại tòa án quốc gia nào ?) và công nhận quyết định của Tòa án nước ngoài;

- Xung đột về luật áp dụng (Tòa án/trọng tài sẽ áp dụng hệ thống pháp luật của nước nào để giải quyết ?).

Hai vấn đề trên hoàn toàn độc lập với nhau. Về nguyên tắc, Tòa án của một quốc gia hoàn toàn có thể áp dụng pháp luật của 1 quốc gia khác để giài quyết vụ việc.

Ngoài 2 vấn đề chủ yếu nêu trên, tư pháp quốc tế của Pháp có nét đặc thù là giải quyết vấn đề quốc tịch và quy chế cư trú của người nước ngoài trên lãnh thổ Pháp.

2. Nguồn của tư pháp quốc tế:

2.1. Nguồn nội địa:

Pháp không có một đạo luật riêng về tư pháp quốc tế, mà các quy định mang tính nguyên tắc nền tảng của tư pháp quốc tế tồn tại trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1804. Cụ thể, Điều 3 BLDS quy định:

«Luật về trật tự công cộng và luật về an ninh có tính chất bắt buộc đối với tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ Pháp.

Bất động sản, kể cả do người nước ngoài chiếm hữu, được điều chỉnh bởi luật của Pháp.

Luật về tình trạng nhân thân và năng lực của cá nhân điều chỉnh đối với công dân Pháp, kể cả khi họ sinh sống ở nước ngoài».

Theo các nhà nghiên cứu, quy định trên đặt ra nguyên tắc mang tính nền tảng không chỉ đối với tư pháp quốc tế của Cộng hòa Pháp mà còn đối với tư pháp quốc tế của hầu hết các quốc gia khác về sau. Ý tưởng chủ đạo của quy định này là đặt ra giới hạn về không gian: trong những trường hợp nào thì luật của Pháp được áp dụng? Điều 3 BLDS Pháp đã có câu trả lời rõ ràng. Trong quy định tại Điều luật trên, trong khi khái niệm về «bất động sản» và «nhân thân và năng lực» đã khá rõ ràng, thì khái niệm về «trật tự công cộng và an ninh» cần phải được làm rõ. Mặc dù đã có nhiều tranh luận xung quanh khái niệm này, song giải thích của giáo sư Phocion Francescakis được coi là học thuyết mang tính phổ quát cho đến ngày nay, theo đó, «luật về trật tự công cộng và an ninh được hiểu là « luật mà sự tuân thủ nó là cần thiết để duy trì trật tự chính trị, xã hội hoặc kinh tế ».

Ngoài nguồn văn bản luật thì án lệ cũng được coi là 1 nguồn của tư pháp quốc tế. Trên thực tế, các bản án, mà chủ yếu là bản án của Tòa phá án (Cour de cassation-Tòa án tối cao) và Tòa phúc thẩm (Cour d’appel) của Pháp cũng góp phần giải thích các nguyên tắc chung tại Điều 3 BLDS Pháp và các giải thích này được coi là một nguồn của tư pháp quốc tế.

2.2. Nguồn từ các điều ước quốc tế:

Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của giao lưu dân sự, thương mại giữa Pháp với các nước trên thế giới là sự gia tăng ký kết các điều ước quốc tế trong đó có chứa đựng các quy phạm về tư pháp quốc tế. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều quy phạm giải quyết xung đột pháp luật trong các công ước thuộc hệ thống Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, ví dụ như: Công ước La Hay 1955 về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán quốc tế trong lĩnh vực động sản; Công ước La Hay 1978 về luật áp dụng đối với chế độ hôn sản; Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con con nuôi…

3. Giải quyết xung đột về chọn cơ quan tài phán:

Tư pháp quốc tế của Pháp phân biệt rõ 2 trường hợp theo đó vụ việc được giải quyết theo tố tụng trọng tài hay tố tụng tòa án quốc gia để từ đó có giải pháp cho từng trường hợp cụ thể.

3.1. Xung đột chọn Trọng tài:

Một vụ việc được đưa ra xét xử bởi Trọng tài xuất phát từ 1 trong 2 căn cứ: (i) có điều khoản thỏa thuận trọng tài; khi phát sinh tranh chấp hai Bên thống nhất chọn trọng tài xét xử. Theo Điều 1496 và 1476 Bộ luật tố tụng dân sự, thì các bên được tự do ý chí trong việc lựa chọn trọng tài cũng như thỏa thuận về khuôn khổ, phạm vi thẩm quyền của trọng tài, thủ tục và thời hạn ra phán quyết (trọng tài không được gia hạn ra phán quyết như trường hợp tòa án). Vấn đề nằm ở chỗ, khi phát sinh ít nhất 1 yếu tố nước ngoài thì xử lý thế nào (ví dụ một công ty Việt Nam đặt hàng mua đồ gỗ 1 công ty Pháp mà công ty Pháp này lại nhập nguyên liệu gỗ từ Indonesia. Hai bên thỏa thuận nếu có tranh chấp sẽ chọn trọng tài Geneva giải quyết). Về bản chất, thỏa thuận trọng tài giống như 1 hợp đồng, nó cũng có thể bị vô hiệu về hình thức, hệ quả, thời hạn. Một bên có thể kiện bên kia ra Tòa án đề nghị tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu vì cho rằng bên kia không đủ thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài chẳng hạn.

Để giải quyết tình huống này, trước năm 1993, Tòa án tối cao Pháp tiếp cận theo hướng trao cho các thẩm phán thụ lý hồ sơ về mặt nội dung được quyền  giải quyết vấn đề xung đột cơ quan tài phán dựa theo quy phạm pháp luật của quốc gia cụ thể (ví dụ quốc gia nơi có trụ sở chính của công ty). Tuy nhiên, từ năm 1993, với án lệ nổi tiếng Dalico (phán quyết của Tòa tối cao ngày 20/12/1993) đã có bước ngoặt mang tính lịch sử. Theo đó, Tòa án tối cao cho rằng «Sự tồn tại và hiệu lực của 1 thỏa thuận trọng tài được đánh giá căn cứ trên quy phạm về trật tự công cộng quốc tế và ý chí thỏa thuận của các bên mà không cần căn cứ vào quy định pháp luật của 1 quốc gia cụ thể ». Như vậy, Tòa án Pháp đã chọn cách tiếp cận theo hướng: từ bỏ cách tiếp cận giải quyết xung đột quy phạm pháp luật nội dung; tôn trọng tự do thỏa thuận của các bên trong thỏa thuận trọng tài; tuân thủ giới hạn «trật tự công cộng quốc tế» (theo các học giả Pháp thì trật tự công cộng quốc tế được hiểu là các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại).

3.2. Xung đột chọn Tòa án quốc gia:

* Nguyên tắc chung :

Vể mặt lịch sử, ban đầu Pháp không chấp nhận quan điểm Tòa án Pháp được xét xử các tranh chấp quốc tế liên quan đến người nước ngoài. Điều 14 và 15 BLDS Pháp quy định « Các tòa án Pháp chỉ có thẩm quyền giải quyết khi nguyên đơn hoặc bị đơn có quốc tịch Pháp». Quy định này bắt nguồn từ tư duy truyền thống cho rằng tòa án Pháp chỉ có trách nhiệm bảo hộ công dân Pháp.

Tuy nhiên, án lệ Pélassa ngày 19/10/1959 đã thay đổi truyền thống trên bằng phán quyết «yếu tố nước ngoài của một bên không phải là lý do dẫn đến kết luận tòa án không có thẩm quyền giải quyết vụ việc, mà thẩm quyền quốc tế của tòa án được xác định bằng sự mở rộng của quy phạm về thẩm quyền quốc gia trên lãnh thổ Pháp». Sau đó, án lệ Scheffel ngày 30/10/1962 đã cụ thể hóa thẩm quyền quốc tế của tòa án Pháp trong nhiều trường hợp và sau đó Bộ Luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã pháp điển hóa thành các quy phạm cụ thể như sau:

- Về nguyên tắc chung, tòa án Pháp có quyền xử các tranh chấp quốc tế theo nguyên tắc nơi cư trú của bị đơn (điều 42 BLTTDS);

- Trong lĩnh vực hợp đồng, căn cứ theo nơi thực hiện hợp đồng (Điều 46 BLTTDS);

- Trong lĩnh vực trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, căn cứ theo nơi xảy ra thiệt hại (Điều 46 BLTTDS);

- Về ly hôn, căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau: nới cư trú chung của gia đình/nơi cư trú chung của vợ chồng cùng với con vị thành niên/nơi cư trú của người không phải là người khởi xướng yêu cầu ly hôn.

* Chọn Tòa án theo quốc tịch của các bên:

Điều 14 BLDS Pháp quy định:

- Khoản 1: « Người nước ngoài, kể cả không cư trú trên lãnh thổ Pháp, có thể bị xét xử bởi Tòa án Pháp về việc thực hiện nghĩa vụ mà họ đã bị ràng buộc tại Pháp liên quan đến 1 công dân Pháp ». Đây chính là trường hợp công dân Pháp là nguyên đơn kiện chống lại một người nước ngoài (ví dụ 1 công dân Pháp bị tai nạn giao thông tại Italia, công dân Pháp có thể kiện công dân Italia đã gây ra tai nạn ra trước tòa án Pháp.

- Khoản 2: «Người nước ngoài có thể bị xét xử bởi Tòa án Pháp về nghĩa vụ mà họ đã bị ràng buộc ở nước ngoài liên quan đến 1 công dân Pháp». Đây là trường hợp người Pháp là bị đơn, ví dụ như người Pháp gây tai nạn giao thông ở Italia thì người Italia có quyền kiện người Pháp ra trước tòa án Pháp.

Tóm lại, điều kiện cần và đủ là nguyên đơn hoặc bị đơn phải là người Pháp. Khái niệm « người » ở đây được mở rộng theo cách hiểu gồm cả pháp nhân. Các nguyên tắc trên mang tính bắt buộc, tức là các bên đương sự không được quyền thỏa thuận khác, trừ một số trường hợp sau (theo án lệ Weiss ngày 27/5/1970):

- các tranh chấp liên quan đến bất động sản và yêu cầu phân chia bất động sản nằm ở nước ngoài;

- yêu cầu liên quan đến thi hành phán quyết ở ngoài lãnh thổ Pháp.

5. Giải quyết xung đột về luật áp dụng:

Xung đột về luật áp dụng là một bộ phận của tư pháp quốc tế mà nội hàm chính là xác định rõ luật nào sẽ được áp dụng trong một vụ tranh chấp có ít nhất một yếu tố nước ngoài. Nói cách khác, khi vụ việc được đưa ra giải quyết trước tòa án Pháp, thẩm phán trước tiên phải phân tích, đánh giá xem hệ thống pháp luật nào sẽ được vận dụng để giải quyết nội dung của tranh chấp. Xuất phát từ nguyên tắc thẩm phán Pháp có thể áp dụng pháp luật nước ngoài, thậm chí về lý thuyết có thể có trường hợp luật của nhiều nước khác nhau cùng được áp dụng, tư pháp quốc tế của Pháp đã đề ra một số nguyên tắc giải quyết xung đột về luật áp dụng. Các nguyên tắc này mang tính phổ quát. Nhìn chung, các quy phạm về giải quyết xung đột luật áp dụng là các quy phạm trừu tượng, mang tính gián tiếp. Nó không trực tiếp giải quyết khía cạnh nội dung của tình huống phát sinh, mà chỉ xác định rõ hệ thống luật nào có thẩm quyền để vận dụng vào tình huống cụ thể đó. Ngoài ra, các quy phạm này còn mang đặc điểm “trung tính”, tức là giải pháp về mặt nội dung vụ việc không cần phải được xem xét trong việc xác định hệ thống luật áp dụng.

Tư pháp quốc tế Pháp phân biệt 2 trường hợp giải quyết xung đột luật áp dụng:

5.1. Giải quyết xung đột pháp luật theo không gian:

Như trên đã nói, Điều 3 BLDS Pháp chỉ đề ra nguyên tắc chung. Các án lệ của Pháp đã phát triển thành những giải pháp xử lý cho các tình huống cụ thể. Tựu chung lại thì « kỹ thuật » mang tính đặc trưng điển hình chính là dựa theo «yếu tố gắn bó nhất»:

Mục đích cuối cùng của việc chọn hệ thống luật chính là tìm ra hệ thống pháp luật nào để giải quyết một cách hiệu quả nhất tình huống tranh chấp. Chính vì vậy, việc tìm ra « yếu tố gắn bó nhất » tức là hệ thống pháp luật gắn bó nhất sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng để giải quyết vấn đề. Trên thực tế, các án lệ thường dựa theo yếu tố như nơi cư trú, quốc tịch của các bên. Sau đây là một số trường hợp cụ thể:

- Việc xác định điều kiện về hình thức của hôn nhân được xác định theo nơi tiến hành hôn lễ (lex loci celebrationis);

- Việc xác định địa vị pháp lý của một người dựa theo quốc tịch của người đó;

- Tranh chấp về tai nạn giao thông : dựa theo luật của nước nơi xe được đăng ký hoặc luật của nước nơi công ty bảo hiểm đóng trụ sở;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: dựa theo luật nơi xảy ra thiệt hại (lex loci delicti);

- Xác định huyết thống của con dựa theo luật quốc tịch của người mẹ ; nếu không xác định được mẹ thì dựa vào luật quốc tịch của con (Điều 311-14 BLDS;

- Việc nhận con dựa theo luật quốc tịch của người nhận hoặc luật quốc tịch của người con (Điều 311-17 BLDS).

5.2. Giải quyết xung đột pháp luật khi cả 2 hệ thống luật cùng có thể được áp dụng:

- Ví dụ: tòa án Pháp giải quyết tranh chấp về điều kiện hôn nhân (vi dụ xác định tuổi kết hôn) giữa một người Pháp và một người Ấn Độ. Trong trường hợp này Tòa án phải căn cứ vào cả 2 hệ thống luật để xác định độ tuổi hôn nhân của công dân mỗi nước.

6. Vấn đề công nhận và thi hành phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài trên lãnh thổ Pháp:

Trong 1 thời gian dài, với tư duy cổ điển về chủ quyền quốc gia, Pháp không thừa nhận việc một bản án của tòa án nước ngoài phát sinh hiệu lực trên lãnh thổ Pháp (án lệ Parker ngày 19/4/1819). Phải đến năm 1964, với án lệ Munzer, Tòa án tối cao Pháp mới chấp nhận việc công nhận và thi hành phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài trên lãnh thổ Pháp với những điều kiện nhất định:

- Thứ nhất, cơ quan tài phán nước ngoài phải có « thẩm quyền quốc tế », tức là trong trường hợp mà «quy phạm giải quyết xung đột cơ quan tài phán của Pháp không trao thẩm quyền riêng biệt cho Tòa án Pháp, thì Tòa án nước ngoài được công nhận có thẩm quyền quốc tế nếu tranh chấp gắn liền với quốc gia mà thẩm phán xét xử và việc lựa chọn cơ quan tài phán không có yếu tố sai lầm » (án lệ Simitch ngày 6/2/1985).

- Thứ hai, thủ tục tố tụng trước cơ quan tài phán nước ngoài phải tỏ ra hợp lệ xét trên quan điểm trật tự công cộng quốc tế của Pháp và việc tôn trọng quyền bào chữa (án lệ Banchir ngày 4/10/2001);

- Thứ ba, quyết định được ban hành phải phù hợp với chuẩn mực trật tự công cộng quốc tế. Một bản án/quyết định sẽ không được công nhận nếu đi ngược các nguyên tắc cơ bản của trật tự pháp luật Pháp.