1. Khái niệm môi giới mại dâm

Từ trước tới nay, việc trừng trị tội môi giới mại dâm đã được Nhà nước ta chú trọng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra khái niệm chính xác, thống nhất về tội môi giới mại dâm. Để xác định chính sách hình sự và yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này, việc tìm ra khái niệm tội môi giới mại dâm là rất cần thiết.

Tội phạm, theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 “là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sứ, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Căn cứ vào quy định trên ta thấy, khái niệm tội phạm nói chung bao gồm các dấu hiệu sau:

1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội;

2) Được quy định trong Bộ luậ Hình sự;

3) Do người có đủ điều kiện chủ thể thực hiện;

4) Có lỗi cố ý hoặc vô ý;

5) Xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Môi giới mại dâm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tạo điều kiện cho tệ nạn xã hội là tệ nạn mại dâm, xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng.

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì:

“Người nào làm trung gian dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm thì bị phạt tù…”.

Như vậy, chỉ cần có hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm (gọi chung là môi giới) thì đã cấu thành tội môi giới mại dâm mà không cần đến yếu tố người môi giới có thu lợi gì từ hành vi môi giới đó hay không.

Môi giới mại dâm là hành vi làm trung gian cho hoạt động mua, bán dâm. Người môi giới mại dâm có thể chủ động tạo điều kiện cho người có nhu cầu bán dâm gặp gỡ với người có nhu cầu mua dâm hoặc ngược lại, rồi để hai bên thỏa thuận về giá cả, địa điểm mua bán, thời gian… Tội môi giới mại dâm không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, đồng thời còn xâm phạm đến đạo đức truyền thống, nếp sống văn minh và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, hiện nay ở Việt Nam còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội môi giới mại dâm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, "Tội môi giới mại dâm là hành vi làm trung gian bằng cách dụ dỗ hoặc dẫn dắt cho hoạt động mại dâm giữa người mua dâm và người bán dâm”. Quan điểm thứ hai cho rằng, "Tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ, dẫn dắt, làm trung gian cho người mua dâm và người bán dâm gặp nhau để mại dâm”. Quan điểm thứ ba cho rằng, "Tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt mại dâm”. Tuy còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm môi giới mại dâm, nhưng qua phân tích, chúng tôi thấy các quan điểm trên có những điểm chung đó là: Về tội môi giới mại dâm, đều là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt mại dâm.

Như vậy có thể hiểu, tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm; do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên cố ý thực hiện; xâm phạm đến trật tự nơi công cộng.

 

2. Dấu hiệu của tội môi giới mại dâm

Tội môi giới mại dâm bao gồm các dấu hiệu cơ bản sau:

 

* Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

Cũng tương tự như đối với tội chứa mại dâm, chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của điều luật, người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này không phân biệt thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật.

 

* Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm.

Cũng như đối với tội chứa mại dâm, tội môi giới mại dâm là tội phạm xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa, trật tự trị an xã hội.

 

* Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan

– Hành vi môi giới mại dâm của người phạm tội được thực hiện với thủ đoạn khác nhau như: dụ dỗ hoặc dẫn dắt với vai trò người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.

– Trước hết phải xác định người phạm tội môi giới mại dâm phải là người làm trung gian cho người mua dâm và người bán dâm, nhưng không nhất thiết phải biết cụ thể người bán dâm cho người nào hoặc người mua dâm với ai.

– Khi xác định hành vi môi giới mại dâm cần phân biệt với hành vi của người đồng phạm trong vụ án chứa mại dâm có tổ chức; nếu tách riêng hành vi của người đồng phạm thì chỉ có thể xác định là hành vi môi giới mại dâm nhưng hành vi này là hành vi giúp sức cho việc chứa mại dâm

Ngược lại, người có hành vi tưởng như đó là hành vi chứa mại dâm nhưng đó là hành vi môi giới mại dâm, nếu như hành vi đó không phải là đồng phạm trong vụ án chứa mại dâm.

Trường hợp một hoặc một số người ( thường là những người đã có nhiều tiền án, tiền sự) “chăn dắt” một số gái mại dâm để chuyên cung cấp cho các khách sạn, nhà nghỉ khi có yêu cầu thì cần phân biệt: nếu có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước, thành đường dây “ gái gọi” thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa mại dâm với vai trò đồng phạm, nếu không có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội môi giới mại dâm với các tình tiết định khung là: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người hoặc tái phạm nguy hiểm.

 

+ Hậu quả

Đối với tội môi giới mại dâm, hậu quả cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tùy trường hợp người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 của điều luật.

c) Các dấu hiệu khách quan khác

Cũng như đối với tội chứa mại dâm, tội môi giới mại dâm cũng không quy định các dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm

 

* Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

– Người phạm tội môi giới mại dâm thực hiện hành vi của mình là do cố ý, tức là người phạm tội biết rõ việc dụ dỗ, dẫn dắt người mua dâm hoặc người bán dâm để họ thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Nếu vì một lý do nào đó mà họ không biết hoặc không thể biết có việc mua bán dâm thì không phạm tội môi giới mại dâm.

– Động cơ của người phạm tội môi giới mại dâm chủ yếu là do tư lợi hoặc vụ động cơ cá nhân khác; động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên, việc xác định động cơ của người phạm tội cũng rất quan trọng có ý nghĩa đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội, động cơ càng xấu mức hình phạt sẽ càng nặng và người lại.

 

3. Xử phạt đối với hành vi môi giới mại dâm

Khoản 2 Điều 24 quy định Người môi giới mại dâm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, Điều 328 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội môi giới mại dâm như sau:

1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

b) Có tổ chức;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

 

4. Xử lý đối với cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm

Cán bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi môi giới mại dâm thì ngoài việc bị xử lý theo quy định nêu trên còn bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục và xử lý kỷ luật.

Cán bộ, công chức hoặc người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi môi giới mại dâm thì trong thời gian bị xử lý kỷ luật không được đề cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; không được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong các cơ quan nhà nước hoặc trong lực lượng vũ trang nhân dân.

 

5. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm

Thực tiễn định tội danh đối với tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm

Trong những năm qua, nhiều vụ án chứa mại dâm, môi giới mại dâm lớn đã bị phát hiện, xử lý nhanh chóng, kịp thời, nghiêm minh, đáp ứng được một phần yêu cầu đấu tranh phòng, chống các tội phạm này. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số trường hợp bỏ lọt tội phạm chứa mại dâm, môi giới mại dâm hoặc định sai tội danh. Vụ án sau đây là một minh chứng cho nhận định này.

 

Thực tiễn định khung và quyết định hình phạt đối với tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm

Trong những năm gần đây, khi xét xử các bị cáo về tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm, nhiều Tòa án đã áp dụng đúng khung và mức hình phạt, góp phần đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt. Tuy nhiên, cũng có không ít vụ Tòa án xử phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, do áp dụng không đúng tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vụ án sau đây là một ví dụ.

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê