1. Hiểu thế nào về ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương

Khi cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, các cặp vợ chồng sẽ thường nghĩ đến việc ly hôn. Pháp luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam quy định cụ thể ly hôn gồm hai loại là ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương. 

Ly hôn thuận tình được hiểu là việc vợ và chồng đều có ý chí muốn ly hôn, đều yêu cầu ly hôn và đã thỏa thuận được với nhau về các yếu tố khác như: tài sản, con cái, các khoản giao dịch, trách nhiệm tài chính phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Tức là chỉ được coi là thuận tình ly hôn khi cả vợ chồng đều cùng đồng thuận về yêu cầu ly hôn, đồng thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Nếu như không thỏa thuận được một trong những yếu tố trên hoặc việc thỏa thuận không đảm bảo quyền lợi cho người vợ và con cái thì Tòa án sẽ giải quyết việc ly hôn

Còn ly hôn đơn phương được hiểu là ly hôn xuất phát từ một phía của vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng muốn ly hôn nhưng bên kia không muốn. Và chính vì bản chất xuất phát từ một phía này nên các yếu tố như tài sản, con cái, các khoản nợ... trong ly hôn thuận tình nêu trên đương nhiên sẽ không đạt được thỏa thuận. 

Nói tóm lại, trường hợp thuận tình ly hôn là do yêu cầu của hai bên vợ và chồng cùng đồng ý ly hôn, thật sự tự nguyện ly hôn. Còn đơn phương ly hôn là do ý chí của một bên yêu cầu ly hôn. Cả hai trường hợp này Toà án đều bắt buộc phải tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành thì mới tiến hành giải quyết cho ly hôn.

2. Vợ muốn ly hôn nhưng chồng không chịu ký tên?

Trường hợp người vợ muốn ly hôn nhưng người chồng không đồng ý ký tên hoặc ngược lại, đây là những trường hợp khá phổ biến hiện nay. Theo phân tích ở trên thì trường hợp này được xét vào ly hôn đơn phương, mong muốn ly hôn chỉ xuất phát từ một phía. Người muốn ly hôn mà người còn lại không chịu ký hoặc gây khó dễ thì hoàn toàn có thể tiến hành ly hôn theo thủ tục ly hôn đơn phương. Tuy nhiên, việc ly hôn đơn phương được Tòa án giải quyết sẽ lâu hơn, phức tạp hơn so với thời gian giải quyết ly hôn thuận tình. Bởi lúc này Tòa án sẽ cần phải tiến hành các thủ tục xác minh các chứng cứ được đưa ra để yêu cầu ly hôn đơn phương, hoặc có trường hợp bị đơn vắng mặt không ra tòa án, tranh chấp về tài sản và con cái. Việc ly hôn đơn phương cũng tốn nhiều chi phí hơn so với ly hôn thuận tình.

Về thủ tục để ly hôn đơn phương, người có yêu cầu ly hôn cần chuẩn bị đủ hồ sơ theo quy định để được Tòa án thụ lý giải quyết. theo đó, cá nhân muốn ly hôn cần phải nộp bộ hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã về hộ khẩu và chữ ký của người muốn ly hôn. Đơn xin ly hôn có thể viết tay hoặc đánh máy, mẫu đơn có thể tải trên các trang điện tử về luật pháp hoặc ra UBND cấp xã để được hướng dẫn

- Bản sao giấy khai sinh của con, trong trường hợp có con 

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì bạn phải xin xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn.

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; giấy tờ đăng ký xe...

- Các minh chứng, chứng cứ về cuộc hôn nhân không hạnh phúc (nếu có)

Sau khi hoàn tất hồ sơ ly hôn đơn phương, người yêu cầu ly hôn sẽ nộp hồ sơ lên cơ quan có thẩm quyền để giải quyết - Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú hoặc nơi bị đơn có trụ sở hoặc nơi bị đơn làm việc, cư trú lần cuối cùng, nơi bị đơn có tài sản (khi không biết bị đơn ở đâu).

3. Cách để giành được quyền nuôi con khi ly hôn

Khi vợ chồng không thỏa thuận được vấn đề về chăm sóc, nuôi dưỡng con cái sau khi ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết tranh chấp về con cái. Việc xác định người vợ hay người chồng có quyền nuôi con cần căn cứ vào những điều kiện cụ thể. Theo đó, nếu con dưới 36 tháng tuổi, pháp luật sẽ ưu tiên cho người mẹ có ưu thế nuôi con hơn. Tức là nếu con dưới 36 tháng tuổi thì người mẹ đương nhiên được quyền nuôi con. Tuy nhiên cũng cần đáp ứng đủ điều kiện về cơ sở vật chất và tinh thần cho con. Ví dụ như mặc dù con dưới 36 tháng tuổi nhưng rất nhiều trường hợp Tòa án tuyên cho người bố có quyền được nuôi con bởi lý do, người mẹ không có đủ điều kiện để đáp ứng việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái

Điều này cũng áp dụng cho trường hợp con trên 36 tháng tuổi, việc giành quyền nuôi con hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của bố và mẹ. Cụ thể, Tòa án sẽ xem xét về điều kiện vật chất của hai bên và điều kiện về tinh thần. Trong đó, điều kiện về vật chất bao gồm điều kiện về kinh tế để đáp ứng được việc nuôi dưỡng con (thu nhập thực tế, công việc ổn định) và điều kiện về nơi ở (có chỗ ở ổn định - nhà ở hợp pháp). Như vậy người nào có điều kiện tài chính hơn so với người còn lại, mức thu nhập, nơi cư trú của người đó phải đủ để đảm bảo điều kiện về nuôi dưỡng, học tập và vui chơi cho các con.

Để chứng minh được vấn đề này, hai bên cần cung cấp cho Toà án những giấy tờ như: hợp đồng lao động, bảng lương, giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu đất, sở hữu nhà (sổ đỏ),...

Thứ hai là điều kiện về tinh thần. Đó chính là thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con và dành tình cảm cho con. Tình cảm dành cho con phải được xem xét từ trước cho đến thời điểm cha mẹ quyết định ly hôn. Ngoài ra, đạo đức, phẩm giá của cha mẹ cũng là một trong những điều kiện cần thiết để đáp ứng được tiêu chí nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái. 

Như vậy, để có thể giành được quyền nuôi con, các bên cần phải chứng minh khả năng của mình đáp ứng đủ các điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần. Đây đều là những căn cứ để Tòa án xác định xem ai là người có lợi thế hơn trong việc đảm bảo quyền lợi của đứa con

Bên cạnh đó, nếu người con đã đủ 7 tuổi thì sẽ dựa vào ý chí, nguyện vọng của con muốn ở cùng bố hay cùng mẹ. Khi đó việc xem xét đến nguyện vọng của con cũng cần phải kèm theo người đó có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ không. 

4. Đất đai đứng tên chồng có phải tài sản chung để chia khi ly hôn không?

Hiện nay có rất nhiều trường hợp vợ chồng có tài sản là đất đai nhưng sổ đỏ hoặc sổ hồng chỉ đứng tên một người, người còn lại thường nghĩ dù đứng tên ai thì cũng sẽ là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên thực tế theo pháp luật thì không phải vậy. Trường hợp chỉ có một người đứng tên trong sổ đỏ, muốn biết đó là tài sản chung hay riêng cần phải dựa trên các yếu tố về nguồn gốc của đất có được là do đâu, thời điểm phát sinh và sự thỏa thuận của vợ chồng. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: 

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó, sổ đỏ khi đứng tên của một trong hai người thì cần phải xác định xem phần tài sản đó có thuộc trường hợp thừa kế, tặng cho riêng hoặc có được thông qua việc giao dịch bằng tài sản riêng hay không (không cần xét đến thời điểm có tài sản). Nếu thuộc một trong các trường hợp trên và vợ chồng không có thỏa thuận gì về việc chuyển tài sản riêng đó thành tài sản chung của vợ chồng thì đương nhiên, sổ đỏ đó là tài sản riêng của người đứng tên.

Trường hợp sổ đỏ đứng tên một trong hai người trước thời kỳ hôn nhân, mặc nhiên đó sẽ là tài sản riêng của người đứng tên. Nhưng mọi hoa lợi, lợi tức có được từ phần đất đó trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi, lợi tức đó là tài sản chung của vợ chồng.

Trường hợp sổ đỏ đứng tên một trong hai người và có được trong thời kỳ hôn nhân qua hình thức mua bán. Nếu chứng minh được đó là tài sản riêng của người đứng tên (như mua bằng tiền riêng, giao dịch bằng tài sản riêng khác) thì đó sẽ là tài sản riêng của người đứng tên. Nếu không chứng minh được thì đương nhiên sẽ là tài sản chung của vợ chồng, không cần kể đến người còn lại có đóng góp gì hay không. Tuy nhiên, công sức đóng góp lại là một trong những yếu tố để Tòa án căn cứ vào đó xác định ai là người được phần hơn về mình trong trường hợp xảy ra tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết. 

5. Án phí khi giải quyết tranh chấp ly hôn

Án phí sơ thẩm là 300.000 đồng nếu không có tranh chấp về tài sản. Nếu có tranh chấp về tài sản, án phí sẽ phụ thuộc vào giá trị của tài sản đó. Trong trường hợp có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản được chia. Và án phí lúc này nếu đơn phương xin ly hôn thì người xin ly hôn phải nộp tiền tạm ứng án phí bằng 50% mức án phí đối với vụ án có giá ngạch theo như giá trị tài sản yêu cầu chia. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hôn nhân thường gặp, cụ thể là khi ly hôn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê