1. Khái quát chung về bắt người trong tố tụng hình sự

Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Do vậy, cũng có những đặc điểm chung của biện pháp ngăn chặn như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, đây là một biện pháp ngăn chặn đặc thù khác với các biện pháp ngăn chặn khác, nên có những đặc điểm riêng (biểu hiện riêng) về bản chất xã hội pháp lý, căn cứ, mục đích, đối tượng, thẩm quyền áp dụng. Cụ thể là:
+ Thứ nhất, về bản chất xã hội – pháp lý: bắt người trong tố tụng hình sự biện pháp tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với đối tượng bị áp dụng.
Nếu như các biện pháp ngăn chặn khác khi được áp dụng có thể hạn chế không chỉ quyền tự do thân thể mà còn hạn chế một số quyền, lợi ích thiết thực khác của đối tượng bị áp dụng như quyền tự do cư trú, quyền về tài sản… thì biện pháp này chủ yếu hạn chế quyền tự do thân thể của đối tượng bị áp dụng.
+ Thứ hai, căn cứ, điều kiện áp dụng tùy theo từng biện pháp bắt người mà có những căn cứ, điều kiện tương ứng. Tuy nhiên những căn cứ bắt người phải là những tài liệu, chứng cứ xác đáng phản ánh đối tượng có khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm, khả năng bỏ trốn, khả năng gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
+ Thứ ba, mục đích áp dụng là để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn những hành vi gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố xét xử, thi hành án, nhất là hành vi tiêu hủy chứng cứ, bỏ trốn…
+ Thứ tư, đối tượng áp dụng là những người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, bị can, bị cáo, người có yêu cầu dẫn độ.
+ Thứ năm, chủ thể có thẩm quyền áp dụng rất đa dạng bao gồm không chỉ những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, những người trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà còn có thể là bất kỳ ai trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm về các biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự như sau: “Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị buộc tội, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị yêu cầu dẫn độ, tạm thời hạn chế tự do thân thể của họ, theo những trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện tội phạm trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi”.
 

2. Các biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2015, các biện pháp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
 

2.1 Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự áp dụng đối với người đã bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà xét thấy cần phải tiếp tục áp dụng biện pháp bắt để tạm giữ đối với người đó trong một thời hạn nhất định.
Qua đây thấy rằng, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt này chỉ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại Điều 110 BLTTHS hiện hành.
Căn cứ để áp dụng biện pháp này là những tài liệu, chứng cứ cho thấy cần phải tiếp tục áp dụng biện pháp bắt để tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong một thời hạn nhất định
Mục đích áp dụng biện pháp này là nhằm ngăn chặn không để người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tiếp tục thực hiện tội phạm, ngăn chặn ngay người phạm tội bỏ trốn, hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Về thẩm quyền, trình tự thủ tục bắt: theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTTHS năm 2015, những người sau đây có thẩm quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
+ Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp;
+ Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng; Cục trưởng cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng chi cục kiểm ngư vùng…
Việc áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được tiến hành theo trình tự thủ tục như sau:
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan điều tra phải lấy lời khai và người có thẩm quyền ra lệnh bắt phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Thời hạn 12 giờ xét phê chuẩn được tính liên tục kể cả trong và ngoài giờ làm việc. Do vậy, sau khi đã dẫn giải người bị bắt về trụ sở của mình. Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải chuyển ngay hồ sơ có đủ tài liệu cho VKS cùng cấp xét phê chuẩn.
Trường hợp cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ nhưng VKS thấy không có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trường hợp VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
 

2.2 Bắt người phạm tội quả tang

Căn cứ vào Điều 111 BLTTHS năm 2015 thì bắt người phạm tội quả tang là trường hợp bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.
Qua đây cho thấy có ba trường hợp bắt người phạm tội quả tang:
+ Trường hợp thứ nhất là trường hợp bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Đối với trường hợp này phải có căn cứ xác định một người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng chưa kết thúc, hành vi phạm tội của người này đang gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Việc đang thực hiện tội phạm diễn ra dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất của hành vi phạm tội, có hành vi phạm tội được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn như hành vi cướp giật, nhưng cũng có hành vi phạm tội được thực hiện trong một thời gian dài và không gian đoạn như hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015. Đối với tội phạm này thì trong suốt thời gian người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị phát hiện vào bất kỳ thời điểm nào đều được coi là “đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện” cần ngăn chặn không để tội phạm tiếp tục được thực hiện.
+ Trường hợp thứ hai là trường hợp một người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đối với trường hợp này phải có căn cứ xác định một người ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấu tang vật, xóa vết tích của tội phạm thì bị phát hiện. Đồng thời, giữa thời điểm kết thúc việc thực hiện tội phạm và thời điểm phát hiện tội phạm không có sự gián đoạn về mặt thời gian. Nếu người thực hiện tội phạm đã kết thúc việc phạm tội và bỏ trốn, sau một khoảng thời gian nhất định người đó mới bị người khác phát hiện, thì việc bắt người phạm tội trong trường hợp này không thuộc trường hợp bắt người phạm tội quả tang.
Việc người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm xong có bị phát hiện hay không tùy thuộc vào tính chất của tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm cũng như khả năng phát hiện của người khác.
+ Trường hợp thứ ba là trường hợp một người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt.
Đối với trường hợp này phải có căn cứ chứng minh một người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm xong thì bị phát hiện nên đã bỏ chạy và bị đuổi bắt. Đồng thời giữa việc người phạm tội bị phát hiện, bỏ chạy và việc bị người khác phát hiện đuổi bắt phải có sự kế tiếp nhau, không gián đoạn về mặt thời gian, nghĩa là việc đuổi bắt phải diễn ra ngay sau khi người phạm tội bỏ chạy.
Về thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang. Do tính cấp bách cần phải bắt ngay người phạm tội quả tang để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi trốn tránh pháp luật, cũng như để phát huy tính tích cực của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định: “bất kỳ người nào cũng có quyền bắt” (khoản 1 Điều 111 BLTTHS năm 2015).
Về thủ tục áp dụng biện pháp bắt người phạm tội quả tang. Để đảm bảo an toàn cho những người tham gia bắt người phạm tội quả tang pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định: “khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt” (khoản 2 Điều 111 BLTTHS)
Sau khi bắt người phạm tội quả tang, người thực hiện việc bắt phải giải ngay người bị bắt đến Cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.
Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay hoặc báo cáo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn công an có trách nhiệm thu giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
 

2.3 Bắt người đang bị truy nã

Bắt người đang bị truy nã là bắt bị can, bị cáo, người bị kết án trục xuất, phạt tù hoặc tử hình hoặc người đang chấp hành án trục xuất, chấp hành án phạt tù hoặc người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn và đã quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền.
Qua đây cho thấy, đối tượng áp dụng biện pháp bắt này là người đang bị truy nã. Họ có thể là bị can, bị cáo, người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình, người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án mà bỏ trốn và đã có quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền.
Như vậy, người đang bị truy nã, với tính chất là đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp này phải có đủ điều kiện: 1. Họ phải có một trong những người nêu trên; 2. Có căn cứ xác định họ đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả; 3. Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn; 4. Đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định (lệnh) truy nã.
Về thẩm quyền và thủ tục áp dụng: tương tự như trường hợp bắt người phạm tội quả tang.
 

2.4 Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là một trong những biện pháp bắt người do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo để tạm giam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội.
Qua đây thấy rằng, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người này chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo.
Bị can là người bị khởi tố về hình sự (Điều 60 BLTTHS).
Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (Điều 61 BLTTHS).
Về căn cứ áp dụng: mặc dù Điều 113 BLTTHS không quy định cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp này nhưng căn cứ vào Điều 119 BLTTHS năm 2015 về tạm giam, có thể thấy căn cứ bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải dựa trên căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam bởi vì sau khi áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng ngay biện pháp tạm giam đối với người bị bắt.
Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2015, cụ thể là:
Căn cứ thứ nhất: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo bị buộc tội về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
Theo Điều 9 BLHS năm 2015 thì tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm  có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù.
Như vậy, bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm những tội có mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 7 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, không phải mọi bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng đều phải bắt để tạm giam. Những đối tượng này chỉ bị bắt để tạm giam nếu việc bị bắt bị can, bị cáo để tạm giam là cần thiết để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, tuy tố, xét xử, hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, hoặc để bảo đảm thi hành án.
Căn cứ thứ hai: bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà BLHS quy định phạt tù trên 2 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong những trường hợp sau đây:
+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
+ Có dấu hiệu bỏ trốn;
+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
+ Tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;
+ Đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này;
+ Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 2 năm nếu họ tiếp tục phạm tội.
Để bảo đảm nguyên tắc nhân đạo của pháp luật, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú, lí lịch rõ ràng thì không bắt bị can, bị cáo để tạm giam, mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp sau:
+ Bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội;
+ Bị can, bị cáo có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
+ Bị can, bị cáo phạm tội về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không bắt bị can, bị cáo để tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Về thẩm quyền áp dụng: Theo quy định tại Điều 113 BLTTHS thì những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
- Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND; Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS quân sự các cấp;
- Chánh án, Phó chánh án TAND; Chánh án, Phó chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.
Về thủ tục áp dụng: thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam được thực hiện như sau:
+ Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh bắt, quyết định bắt bị can, bị cáo  để tạm giam phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt; số, ngày, tháng, năm; địa chỉ ban hành lệnh, quyết định phê chuẩn lệnh; căn cứ ban hành lệnh, quyết định phê chuẩn; nội dung của lệnh, quyết định phê chuẩn; họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành lệnh, quyết định phê chuẩn và đóng dấu.
Khi tiến hành việc bắt, người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, đồng thời phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.
Khi tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến (thân nhân, người láng giềng của người bị bắt hoặc bất kỳ ai có mặt tại địa điểm thực hiện việc bắt) chứng kiến. Khi tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành việc bắt người.
Không được bắt bị can, bị cáo để tạm giam vào ban đêm (từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau), trừ trường hợp bắt bị can, bị cáo đang bị truy nã. Quy định này nhằm bảo đảm việc bắt được công khai, minh bạch, giữ trật tự chung cho người dân.
 

2.6 Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ

Áp dụng biện pháp bắt người bị yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ phát sinh từ nhu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Do vậy, trong một số hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự mà Việt Nam đã ký kết có quy định sau khi nhận được yêu cầu dẫn độ, bên được yêu cầu phải áp dụng các biện pháp cần thiết theo pháp luật của nước mình để bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Để đáp ứng yêu cầu này, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 đã dành một điều (Điều 41) để quy định các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ. Nghiên cứu điều luật này thấy rằng, nội dung của Điều 41 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung, chưa quy định một cách cụ thể, rõ ràng đối tượng, cơ quan và người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng cũng như trình tự thủ tục áp dụng.
Để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc áp dụng biện pháp bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể 5 biện pháp ngăn chặn, trong đó có biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành yêu cầu dẫn độ. Biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ lần đầu tiên được quy định tại Điều 503 BLTTHS năm 2015.
Mặc dù tại Điều 503 BLTTHS không quy định định nghĩa pháp lý về khái niệm bắt để tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ, nhưng có thể hiểu: “Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam nhằm bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ, đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự”.
Căn cứ vào quy định tại Điều 503 BLTTHS năm 2015 đối tượng bị áp dụng biện pháp này là người xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc người bị dẫn độ.
Khi thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án nếu có đủ điều kiện để dẫn độ. Công dân Việt Nam mặc dù là đối tượng bị từ chối dẫn độ nhưng họ có thể là đối tượng bị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam dẫn độ. Do vậy, trong quá trình xem xét yêu cầu dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì công dân Việt Nam có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nhất định, trong đó có biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ.
Điều kiện áp dụng: Biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ hoặc người bị dẫn độ khi có đủ các điều kiện:
+ Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó hoặc quyết định dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;
+ Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ.
Thẩm quyền quyết định áp dụng: Theo quy định tại Điều 502 BLTTHS năm 2015 thì Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp tỉnh; Chánh án, Phó chánh án TAND cấp cao quyết định áp dụng biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ.
Về thủ tục: Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo thủ tục quy định tại Điều 113 BLTTHS (bắt bị can, bị cáo để tạm giam).
Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.
Trường hợp cần thiết, TAND cấp tỉnh, TAND cấp cao có thể gửi văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra lệnh, quyết định tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an.
“Trường hợp cần thiết” ở đây hiện tại chưa có văn bản giải thích, hướng dẫn, nhưng có thể hiểu là trường hợp không có đủ tài liệu, chứng cứ để xem xét quyết định áp dụng biện pháp tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ.
Quy định này của BLTTHS năm 2015 thể hiện tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trong việc hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự, cũng như tôn trọng pháp luật của nước sẽ xét xử tội phạm được dẫn độ và mỗi nước khác nhau có những quan niệm về tội phạm và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam với thời hạn khác nhau
Khi tòa án có thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ hoặc hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày quyết định thi hành dẫn độ có hiệu lực mà nước yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ thì biện pháp ngăn chặn tạm giam đã áp dụng bị hủy bỏ. Khi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam, người bị yêu cầu dẫn độ có thể hoặc không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Công ty Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)