1. Quy định chung về bắt người theo luật tố tụng

Theo quy định của pháp luật, có các hình thức bắt người là: bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt khẩn cấp, bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là nguyên tắc cơ bản được Hiến pháp quy định. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát. Vì vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ căn cứ, thẩm quyền, đối tượng và thủ tục bắt người phạm tội. Trừ bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì việc bắt người phải có lệnh; người thi hành lệnh phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt; không được bắt người vào ban đêm; khi tiến hành bắt người phải có người chứng kiến và phải lập biên bản về việc bắt.

Ngoài biện pháp ngăn chặn, người bị kết án phạt tù đang tại ngoại và đã có quyết định thi hành án phạt tù mà không tự nguyện có mặt tại cơ quan có thẩm quyền để thi hành án thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc bắt người đó để thi hành án (Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).

2. Bắt người là gì ?

Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Việc bắt người tác động trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của công dân, một trong các quyền nhân thân quan trọng nhất của con người được quy định trong hiến pháp. Vì vậy, cần phải có sự cân nhắc hết sức thận trọng khi quyết định việc bắt. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định năm trường hợp bắt người sau: Bắt người bị giữ trong trường họp khẩn cấp; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã; bắt người bị yêu cầu dẫn độ (Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ được quy định tại Phần thứ 8 - Hợp tác quốc tế, xem: Điều 503 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

3. Quy định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

- Đối tượng áp dụng: Đối tượng có thể bị bắt trong trường hợp này là những người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Không phải bất cứ người nào bị giữ trong trường họp khẩn cấp đều bị bắt trong trường hợp này. Việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết.

>> Xem thêm:  Đặc điểm của nhân thân người phạm tội là gì ? Cách phân loại người phạm tội ?

- Thẩm quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, là những người có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp này.

Đối với người bị giữ khẩn cấp theo lệnh của người quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thì sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu bay, tàu biển trở về ở trong nước. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó.

- Thủ tục bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lí do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều 110 và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Xem: Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn. Trường hợp viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ. Thời hạn xem xét, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là 12 giờ kể từ khi viện kiểm sát nhận được hồ sơ đề nghị xét phế chuẩn.

4. Bắt người phạm tội quả tang

Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt (Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần phải điều tra, xác minh, về cơ bản ai nhìn thấy cũng có thể khẳng định đây là người đang thực hiện tội phạm hoặc vừa thực hiện tội phạm.

Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:

>> Xem thêm:  Tình huống phạm tội là gì ? Vai trò của tình huống trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội

- Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa kết thúc việc phạm tội thì bị phát hiện.

Hành vi đang thực hiện tội phạm có thể đã gây ra hậu quả vật chất như đã huỷ hoại được một phần tài sản của người khác và vẫn đang huỷ hoại tiếp. Trong trường hợp hành vi đang thực hiện một tội phạm có cấu thành hình thức thì mặc dù hậu quả vật chất chưa xảy ra vẫn coi là hành vi đang thực hiện tội phạm.

Ví dụ: Hành vi đang đe doạ nạn nhân bằng dao, súng hoặc có thủ đoạn khác làm cho người đó lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm cướp tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được. Hành vi đang thực hiện tội phạm có thể diễn ra trong một thời gian ngắn như hành vi trộm cắp, cướp tài sản nhưng cũng có thể diễn ra trong một thời gian dài như hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng.

- Trường hợp thứ hai: Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Đây là trường hợp vừa thực hiện tội phạm xong, người phạm tội chưa kịp chạy trốn hoặc đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị phát hiện. Trong trường hợp người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm phát hiện ngay thì mặc dù không có vật chứng để lại cũng được coi là phạm tội quả tang.

Ví dụ: Vừa đâm chết người đang nhét xác chết vào bao tải nhằm đưa đi chôn giấu thì bị người thân thích của nạn nhân phát hiện. Trường hợp này dù không nhìn thấy công cụ, phương tiện phạm tội nhưng có thể dựa vào các dấu vết để lại tại hiện trường cũng như chính sự không minh bạch của hành vi mà người đó đang thực hiện để xác định đây chính là người vừa thực hiện tội phạm.

- Trường hợp thứ ba: Đang bị đuổi bắt. Đây là trường hợp người phạm tội đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt. Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi người đó chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầm phải người không thực hiện tội phạm.

Ví dụ: Người vừa cướp giật túi xách của người khác bị người đó phát hiện hô hoán nên bỏ chạy, bị đuổi bắt và bắt được ngay lúc đó. Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về thời gian so với hành vi chạy trốn thì không được xem là bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp.

Ví dụ: Người vừa móc túi lấy ví tiền của người khác bị người đó phát hiện và hô hoán nên bỏ chạy và bị đuổi bắt nhưng người đó đã chạy thoát, vài hôm sau người bị móc túi gặp lại người này tại bến xe khách. Trường hợp này người bị móc ví tiền không được bắt ngay người đó mà phải báo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét, xác minh và có thể giữ người này theo trường hợp khẩn cấp thứ hai.

+ Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang. Để huy động và phát huy tính tích cực của quần chúng trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội và trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định bất ki người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang.

+ Thủ tục bắt người phạm tội quả tang.

>> Xem thêm:  Nhân thân người phạm tội là gì ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu người phạm tội

Việc bắt người phạm tội quả tang không cần lệnh của cơ quan và người có thẩm quyền. Mọi người đều có quyền bắt và tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Sau khi bắt người phạm tội quả tang, người bắt phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Việc bắt đối với một số đối tượng khác ngoài việc phải tuân thủ các quy định về bắt người nói chung còn phải căn cứ vào một số quy định khác của pháp luật.

Ví dụ: Việc bắt người phạm tội là người thuộc các cơ quan dân cử như đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ngoài việc tuân theo các quy định ở các điều 110,111 và 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, còn phải đảm bảo một số thủ tục được quy định trong hiến pháp và một số đạo luật khác. Sở dĩ có quy định như vậy là nhằm bảo đảm cho việc thực hiện chức năng giám sát việc thi hành hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm được tốt chứ không phải là một sự phân biệt hay thiên vị, sự không bình đẳng hoặc là những đặc quyền có tính chất ngoại lệ nhằm bảo vệ cho bất cứ một cá nhân nào (Xem: Điều 81 Hiến pháp năm 2013; Điều 37 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014; Điều 100 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015).

* Bắt người đang bị truy nã (Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, )

Người đang bị truy nã là người thực hiện hành vi phạm tội đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù mà bỏ trốn và đã bị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh truy nã. Hành vi của người đang bị truy nã không phải là hành vi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt nên người đang bị truy nã không phải là người phạm tội quả tang. Tuy vậy, trong thực tế việc ngăn chặn ngay người đang bị truy nã trốn tránh pháp luật cũng cấp bách như đối với việc ngăn chặn người phạm tội quả tang nên Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định thẩm quyền, thủ tục bắt người đang bị truy nã cũng được áp dụng như bắt người phạm tội quả tang.

5. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị toà ản quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự (Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ).

- Đối tượng áp dụng và điều kiện áp dụng

Đối tượng bị bắt để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo. Những người chưa bị khởi tố về hình sự hoặc người chưa bị toà án quyết định đưa ra xét xử không phải là đối tượng bắt để tạm giam.

>> Xem thêm:  Thế nào là tạm giam, tạm giữ theo Bộ Luật hình sự mới ? Thời hạn tạm giam là bao lâu ?

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hiện hành không quy định cụ thể bị can, bị cáo có thể bị bắt để tạm giam trong các trường hợp nào nhưng không phải mọi bị can, bị cáo đều bị bắt để tạm giam mà chỉ bắt tạm giam bị can, bị cáo nếu xét thấy cần thiết. Mục đích của bắt người trong trường hợp này là để tạm giam nên trước khi quyết định bắt, cơ quan có thẩm quyền cần xác định có cần thiết bắt bị can, bị cáo đó để tạm giam hay không. Thông thường, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng căn cứ vào tính chất của tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các đặc điểm về nhân thân cũng như thái độ chấp hành pháp luật của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án. Những vấn đề này có thể được xem xét độc lập trong một số trường họp như phạm tội gây nguy hại rất lớn hay đặc biệt lớn cho xã hội. Bị can, bị cáo phạm tội trong các trường hợp này thì việc bắt để tạm giam là cần thiết vì trước hết, các tội phạm trên pháp luật quy định việc xử lí rất nghiêm khắc do tính chất, mức độ nguy hiểm cao của chúng, mặt khác phân lớn người phạm tội cũng nhận thức được trách nhiệm pháp lí mà họ phải chịu vì đã thực hiện hành vi phạm tội đó là rất nặng nề cho nên thường tìm mọi cách để trốn tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho việc bắt để tạm giam là đúng đắn và thật sự cần thiết, các điều kiện nói trên thường được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, có trường hợp mặc dù bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố hoặc bị toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại không lớn hoặc gây nguy hại lớn cho xã hội) nhưng nhân thân xấu cũng như có căn cứ khẳng định bị can, bị cáo sẽ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì việc quyết định bắt để tạm giam đối với họ là cần thiết.

- Thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam (khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 )

Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

+ Trong giai đoạn điều tra, việc bắt bị can để tạm giam do thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong và ngoài quân đội quyết định

Lệnh bắt bị can để tạm giam của cơ quan điều tra phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Sự phê chuẩn của viện kiểm sát là thủ tục pháp lí bắt buộc nhằm kiểm tra tính có căn cứ và tính họp pháp của lệnh bắt để bảo đảm hiệu lực của lệnh bắt người cũng như sự cần thiết phải bắt tạm giam bị can. Ngoài ra, quy định việc xem xét để phê chuẩn lệnh bắt người của cơ quan điều tra trước khi thi hành còn giúp hạn chế tình trạng lạm dụng quyền được áp dụng biện pháp ngăn chặn để tác động một cách trái pháp luật đến quyền con người, quyền công dân vì những mục đích cá nhân. Thời hạn xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam là 03 ngày kể từ khi viện kiểm sát nhận được công văn đề nghị xét phê chuẩn cùng các tài liệu có liên quan đến việc bắt. Trường hợp chưa rõ căn cứ để phê chuẩn hoặc để từ chối phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, viện kiểm sát làm văn bản yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để xác định rõ các căn cứ này trước khi ra quyết định.

+ Trong giai đoạn truy tố, việc bắt bị can để tạm giam do viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân sự các cấp quyết định.

+ Trong giai đoạn xét xử, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam do chánh án, phó chánh án toà án nhân dân và toà án quân sự các cấp; hội đồng xét xử quyết định (chánh án, phó chánh án tòa án quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; hội đồng xét xử quyết định bắt bị cáo để tạm giam tại phiên tòa xét xử - Xem khoản 1 Điều 278 và khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

- Thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam (khoản 2 và khoản 3 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 )

+ Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh, quyết định của người có thẩm quyền; lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lí do bắt. Lệnh, quyết định bắt phải có chữ kí của người ra lệnh, quyết định và có đóng dấu cơ quan. Lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải bảo đảm yêu cầu pháp lí nêu trên mới có giá trị thi hành. Lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo mà vi phạm quy định của pháp luật như bắt người theo lệnh, quyết định miệng, lệnh, quyết định bắt của người không có thẩm quyền, lệnh, quyết định bắt không ghi rõ ngày, tháng, năm họ tên, chức vụ của người ra lệnh, quyết định, lệnh, quyết định không có chữ kí của người có thẩm quyền, không đóng dấu cơ quan, lệnh, quyết định bằng thư tay, lệnh bắt của cơ quan điều tra không có phê chuẩn của viện kiểm sát đều không có giá trị thi hành.

+ Trước khi bắt, người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh, quyết định bắt, giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt nghe. Người bị bắt có quyền yêu cầu người thi hành lệnh, quyết định bắt đọc toàn văn lệnh, quyết định bắt và giải thích lệnh, quyết định bắt. Trong trường họp có nghi ngờ về lệnh, quyết định bắt, người bị bắt có quyền yêu cầu cho xem lệnh, quyết định bắt. Những yêu cầu đó phải được người thi hành lệnh, quyết định bắt chấp nhận.

>> Xem thêm:  Tạm giữ là gì ? Quy định pháp luật về tạm giữ người ?

+ Khi bắt phải lập biên bản bắt người. Biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh, quyết định bắt, thái độ của người bị bắt trong việc chấp hành lệnh, quyết định bắt, những đồ vật, tài liệu có liên quan được phát hiện, bị tạm giữ và những yêu cầu, khiếu nại của người bị bắt. Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh, quyết định bắt và người chứng kiến phải cùng kí tên vào biên bản. Nếu có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì họ có quyền ghi vào biên bản và kí tên.

+ Khi tiến hành bắt người tại nơi cư trú của họ phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến.

+ Khi tiến hành bắt người tại nơi làm việc của họ phải có mặt đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt làm việc chứng kiến.

+ Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị ưấn nơi đó chứng kiến.

Không được bắt bị can, bị cáo để tạm giam vào ban đêm (Bắt người từ 22 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau là bắt người vào ban đêm).

Việc quy định và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trên về việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam vừa thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm vừa là sự tôn họng các quyền cơ bản của công dân, tránh mọi tác động trái pháp luật tới các quyền này.

Lưu ý: Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt (các điều 114,116 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 )

Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp,bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Quy định như vậy giúp tránh được tình trạng giữ người quá thời hạn luật định mà không có lệnh tạm giữ, vi phạm quyền tự do thân thể của công dân.

Đối với người bị truy nã, sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã.

Trường hợp cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết; nếu đã hết thời hạn tạm giữ mà cơ quan ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận thì cơ quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi ngay quyết định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.

>> Xem thêm:  Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là gì ? Khi nào thì được bắt giữ người ?

Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất. Trường hợp người bị bắt có nhiều quyết định truy nã thì cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã nơi gần nhất.

Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; việc thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc biết rõ người đó đã bị cơ quan nhà nước bắt, lí do bị bắt để họ khỏi tổ chức việc đi tìm hay thông báo về việc mất tích gây tốn kém thời gian và tiền bạc hoặc gây lo lắng hoang mang cho gia đình và người thân thích của người bị bắt. Trong trường hợp khi thi hành lệnh bắt, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc đã tham gia thì chỉ cần thông báo cho gia đình của người bị bắt biết về việc bắt người.

Trường hợp người bị giữ, người bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông‘báo cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.

Neu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều ứa thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về bắt người phạm tội, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời hạn tạm giam điều tra theo quy định mới nhất năm 2021 ?