1. Căn cứ pháp luật để ký kết hợp đồng xây dựng ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: L.T.H

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:
Luật Xây dựng 2014 quy định về các loại hợp đồng xây dựng như sau:
Điều 140. Các loại hợp đồng xây dựng.
1. Hợp đồng xây dựng được phân loại theo tính chất, nội dung công việc thực hiện và giá hợp đồng áp dụng.
2. Theo tính chất, nội dung công việc thực hiện, hợp đồng xây dựng gồm:
a) Hợp đồng tư vấn xây dựng;
b) Hợp đồng thi công xây dựng công trình;
c) Hợp đồng cung cấp thiết bị lắp đặt vào công trình xây dựng;
d) Hợp đồng thiết kế - mua sắm vật tư, thiết bị - thi công xây dựng, hợp đồng chìa khoá trao tay;
đ) Hợp đồng xây dựng khác.
3. Theo hình thức giá hợp đồng áp dụng, hợp đồng xây dựng gồm:
a) Hợp đồng trọn gói;
b) Hợp đồng theo đơn giá cố định;
c) Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh;
d) Hợp đồng theo thời gian;
đ) Hợp đồng theo chi phí cộng phí;
e) Hợp đồng theo giá kết hợp;
g) Hợp đồng xây dựng khác;
h) Hợp đồng xây dựng sử dụng vốn nhà nước chỉ áp dụng các loại hợp đồng quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này hoặc kết hợp các loại hợp đồng này.
Hợp đồng mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản từ nguồn cấp trong dự toàn hàng năm và nguồn sự nghiệp là hợp đồng xây dựng được phân theo tính chất, nội dung công việc thực hiện. Việc tiến hành kí kết hợp động này phải tuân theo các căn cứ pháp lý quy định tại Luật xây dựng 2014 như sau:
Điều 138. Quy định chung về hợp đồng xây dựng
1. Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng.
2. Nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng gồm:
a) Tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, không trái pháp luật và đạo đức xã hội;
b) Bảo đảm có đủ vốn để thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng;
c) Đã hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu và kết thúc quá trình đàm phán hợp đồng;
d) Trường hợp bên nhận thầu là liên danh nhà thầu thì phải có thoả thuận liên danh. Các thành viên trong liên danh phải ký tên, đóng dấu (nếu có) vào hợp đồng xây dựng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác...
4. Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng xây dựng là tiếng Việt. Trường hợp hợp đồng xây dựng có sự tham gia của bên nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và ngôn ngữ khác do các bên hợp đồng thỏa thuận.
5. Hợp đồng xây dựng phải được ký kết và thực hiện phù hợp với quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan.
Việc kí kết hợp đồng xây dựng phải được tiến hành giữa hai bên chủ thể đáp ứngđiều kiện chủ thể: cá nhân phải có đủ năng lực hành vi dân sự; tổ chức đủ điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề hoạt động. Đồng thời việc kí kết phải tuân thủ theo nguyến tắc ký kết (Khoản 2, Điều 138 Luật Xây dựng 2014). Một hợp đồng xây dựng được coi là có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại điều 139 Luật Xây dựng 2014.
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng được tính là thời điểm khi bên cuối cùng kí vào hợp đồng hoặc có thể vào thời điểm cụ thể khác theo thỏa thuận của hai bên.Trân trọng./.
2. Bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng nhà ở ?
Trước ngày động thổ em có yêu cầu Công ty cho thợ về đo đạc và bắn tim nhưng tận 19h thợ mới về. Hôm sau cậu thiết kế nhà ở Công ty nói với em là cậu ấy đã nghỉ việc ở Công ty vì các khoản cậu ấy đề nghị thanh toán Công ty không thanh toán. Giám đốc yêu cầu chuyển tiền trước khi thi công 150 triệu thì đừng chuyển để làm xong móng mới chuyển. Em thấy hoang mang vì cậu thiết kế nghỉ, kỹ thuật xây nhà sẽ bị ảnh hưởng nên em quyết định hủy hợp đồng và liên lạc cho Giám đốc thông báo. Giám đốc đồng ý nhưng đòi em phải trả khoản phí là 10 triệu để thanh toán cho anh em đi lại làm việc và để đặt cọc tiền thuê thợ, tiền đi taxi anh đó đi về nhà em (Taxi đi về nhà em khoảng 300.000 đồng). Vậy cho em hỏi:
- Giám đốc đòi 10triệu với lý do trên có đúng khi em đơn phương chấm dứt hợp đồng?
- Hợp đồng ghi sai, không đồng nhất 2 bản thì có giá trị pháp lý không?
- Giám đốc có đủ cơ sở kiện em đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu thiệt hại như trên có đúng pháp luật hiện hành không?
Xin cảm ơn Luật sư Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:
Thứ nhất, việc Giám đốc công ty đó đòi 10 triệu khi đơn phương chấm dứt hợp đồng:
Theo Bộ luật dân sự 2015 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng:
"Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.
5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng."
Bên cạnh đó, theo Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng quy định về chấm dứt hợp đồng:
"Điều 41. Chấm dứt hợp đồng xây dựng
1. Các tình huống được chấm dứt hợp đồng, quyền được chấm dứt hợp đồng; trình tự thủ tục chấm dứt, mức đền bù thiệt hại do chấm dứt hợp đồng phải được các bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng và phải phù hợp với quy định của Nghị định này, quy định của pháp luật có liên quan.
2. Mỗi bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp quy định tại các Khoản 7 và 8 Điều này.
3. Trường hợp đã tạm dừng thực hiện hợp đồng mà bên vi phạm hợp đồng không khắc phục lỗi của mình trong khoảng thời gian năm mươi sáu (56) ngày kể từ ngày bắt đầu tạm dừng theo thông báo, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác và không có lý do chính đáng thì bên tạm dừng có quyền chấm dứt hợp đồng.
4. Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng mà không phải do lỗi của bên kia gây ra, thì bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.
5. Trước khi một bên chấm dứt hợp đồng thì phải thông báo bằng văn bản cho bên kia trước một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không ít hơn hai mươi tám (28) ngày, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác và trong đó phải nêu rõ lý do chấm dứt hợp đồng. Nếu bên chấm dứt hợp đồng không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia, thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.
6. Hợp đồng xây dựng không còn hiệu lực kể từ thời điểm bị chấm dứt và các bên phải hoàn tất thủ tục thanh lý hợp đồng trong khoảng thời gian theo thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá năm mươi sáu (56) ngày kể từ ngày thông báo chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác. Ngoài thời gian này nếu một bên không làm các thủ tục thanh lý hợp đồng thì bên kia được toàn quyền quyết định việc thanh lý hợp đồng.
7. Bên giao thầu có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:
a) Bên nhận thầu bị phá sản, giải thể hoặc chuyển nhượng hợp đồng xây dựng cho người hoặc tổ chức khác mà không có sự chấp thuận của bên giao thầu.
b) Bên nhận thầu từ chối thực hiện công việc theo hợp đồng hoặc năm mươi sáu (56) ngày liên tục không thực hiện công việc theo hợp đồng, dẫn đến vi phạm tiến độ thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng, trừ trường hợp được phép của bên giao thầu.
8. Bên nhận thầu có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:
a) Bên giao thầu bị phá sản, giải thể hoặc chuyển nhượng hợp đồng xây dựng cho người hoặc tổ chức khác mà không có sự chấp thuận của bên nhận thầu.
b) Sau năm mươi sáu (56) ngày liên tục công việc bị dừng do lỗi của bên giao thầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
c) Bên giao thầu không thanh toán cho bên nhận thầu sau năm mươi sáu (56) ngày kể từ ngày bên giao thầu nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
9. Trong thời hạn hai (02) ngày làm việc kể từ khi hợp đồng xây dựng bị chấm dứt, bên nhận thầu phải di chuyển toàn bộ vật tư, nhân lực, máy móc, thiết bị và các tài sản khác thuộc sở hữu của mình ra khỏi công trường, nếu sau khoảng thời gian này bên nhận thầu chưa thực hiện việc di chuyển thì bên giao thầu có quyền xử lý đối với các tài sản này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác".
Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng mà không phải do lỗi của bên kia gây ra, thì bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Mức đền bù thiệt hại do chấm dứt hợp đồng phải được các bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng và phải phù hợp với quy định của Nghị định này, quy định của pháp luật có liên quan.
Như vây, bên kia không có lỗi nhưng bạn lại đơn phương chấm dứt hợp đồng nên bạn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Nếu trong hợp đồng của bạn và công ty đã có sự thoả thuận thì sẽ thực hiện theo đúng hợp đồng. Từ đó sẽ tính ra được chi phí bồi thường thiệt hại chính xác. Mặt khác, nếu trong hợp đồng chưa có quy định này thì hai bên cùng nhau thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại.
Thứ hai: về hình thức của hợp đồng.
Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự:
" Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. ".
Bên cạnh đó, theo Điều 122 Bộ luật dân sự 2015:
" Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.".
Một điểm bạn cần lưu ý, Công trình xây dựng nhà ở của bạn phải xin Giấy phép xây dựng theo Khỏn 1 Điều 89 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 của Quốc hội:
"1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này".
Như vây, trường hợp không có Giấy phép xây dựng thì hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý. Ngoài ra, nếu hợp đồng chỉ vi phạm về hình thức khác thì hợp đống sẽ không bị vô hiệu.
Thứ ba: Khởi kiện khi đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Lý do người thiết kế nghỉ, kỹ thuật xây nhà sẽ bị ảnh hưởng nên bạn quyết định hủy hợp đồng và liên lạc cho Giám đốc thông báo và đã được Giám đốc đồng ý. Do đó, họ không có đủ lý do để khởi kiện bạn. Theo Khoản 5 Điều 41 Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định về chấm dứt hợp đồng:
"5. Trước khi một bên chấm dứt hợp đồng thì phải thông báo bằng văn bản cho bên kia trước một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuậntrong hợp đồng nhưng không ít hơn hai mươi tám (28) ngày, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác và trong đó phải nêu rõ lý do chấm dứt hợp đồng. Nếu bên chấm dứt hợp đồng không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia, thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia".
Trường hợp việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của bạn trái với quy định pháp luật thì Công ty đó mới được khởi kiện đòi bồi thường. Bạn cần phải xem lại nội dung của hợp đồng, nếu trong nội dung của hợp đồng xây dựng thể hiện việc thiết kế do chính anh A đảm nhận và việc thay đổi người trực tiếp thiết kế là một trong những căn cứ bên giao thầu được chấm dứt HĐ thì bạn hoàn toàn được chấm dứt HĐ mà không phải bồi thường. Còn nếu trong HĐ không thể hiện nội dung này, hơn nữa, người trực tiếp thiết kế không phải là một trong những nội dung để ràng buộc thì việc bạn chấm dứt HĐ phải dựa vào sự thỏa thuận với bên nhận thầu. Do đó, hai bên cần thương lượng với nhau về mức bồi thường thiệt hại hợp lý để không dẫn đến hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162. Trân trọng ./.
3. Xử lý tranh chấp hợp đồng xây dựng như thế nào ?

Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau:
Theo quy định của Luật xây dựng năm 2014 quy định:" Thiết kế bản vẽ thi công là thiết kế thể hiện đầy đủ các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, bảo đảm đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình."
Như vậy, việc xây dựng của bạn sẽ phải thể hiện rõ xây dựng nhà tạm hay xây dựng nhà ở kiên cố vì trong hồ sơ xin cấp giấy phép mới buộc phải đưa ra vật liệu sử dụng trong hồ sơ xin phép cụ thể trong bản vẽ thiết kế thi công xây dựng.
Còn bạn muốn xây dựng bằng thép tiền chế lắp ráp thì cần phải tìm hiểu rõ quy định tại UBND cấp tỉnh nơi bạn cư trú hiện tại xem có hướng dẫn chỉ đạo về cấp phép xây dựng tại địa phương hay không.
Thưa luật sư, Gia đình tôi có mảnh đất sổ đỏ là 59.4m2 diện tích được phép sử dụng là 85m2 tôi muốn xây dựng nhà ở xung quanh một mặt là đường đi có vỉa hè 3.5m2 một mặt hồ có đường đi dạo 4m2 tôi muốn xd diện tích là 59.4m2 theo sổ đỏ ở tâng trệt. Lên tầng 2 tôi có được phép đua ra đủ diện tích 85m2 không nếu được tôi cần làm thủ tục gì không vinh?
Căn cứ Quyết định 04/2008/QĐ-BXD quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng quy định Phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ như sau:
2.8.10. Phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ
Các quy định này cần được vận dụng phù hợp với giải pháp tổ chức không gian cụ thể của từng khu vực và thể hiện trong quy định về quản lý xây dựng theo đồ án quy hoạch của từng khu vực cụ thể và phải tuân thủ các quy định sau đây:
1) Các bộ phận cố định của nhà:
- Trong khoảng không từ mặt vỉa hè lên tới độ cao 3,5m, mọi bộ phận của nhà đều không được nhô quá chỉ giới đường đỏ, trừ các trường hợp dưới đây:
+ Đường ống đứng thoát nước mưa ở mặt ngoài nhà: được phép vượt qua đường đỏ không quá 0,2m và phải đảm bảo mỹ quan;
+ Từ độ cao 1m (tính từ mặt vỉa hè) trở lên, các bậu cửa, gờ chỉ, bộ phận trang trí được phép vượt đường đỏ không quá 0,2m.
- Trong khoảng không từ độ cao 3,5m (so với mặt vỉa hè) trở lên, các bộ phận cố định của nhà (ô-văng, sê-nô, ban công, mái đua..., nhưng không áp dụng đối với mái đón, mái hè) được vượt quá chỉ giới đường đỏ theo những Điều kiện sau:
+ Độ vươn ra (đo từ chỉ giới đường đỏ tới mép ngoài cùng của phần nhô ra), tùy thuộc chiều rộng lộ giới, không được lớn hơn giới hạn được quy định ở bảng 2.9, đồng thời phải nhỏ hơn chiều rộng vỉa hè ít nhất 1,0m, phải đảm bảo các quy định về an toàn lưới điện và tuân thủ quy định về quản lý xây dựng áp dụng cụ thể cho khu vực;
+ Vị trí độ cao và độ vươn ra cụ thể của ban công phải thống nhất hoặc tạo được nhịp điệu trong hình thức công trình kiến trúc, tạo được không gian kiến trúc cảnh quan trong từng cụm nhà cũng như trong tổng thể toàn khu vực;
+ Trên phần nhô ra chỉ được làm ban công, không được che chắn tạo thành lô-gia hay buồng.
Bảng 2.9: Độ vươn ra tối đa của ban công, mái đua, ô-văng
| Chiều rộng lộ giới (m) | Độ vươn ra tối đa Amax (m) |
| Dưới 7m | 0 |
| 7 - 12 | 0,9 |
| >12 - 15 | 1,2 |
| >15 | 1,4 |
Thưa luật sư, xin hỏi: Ngày 1 tháng 7 năm 2007 tôi là người vn định cư nước ngoài được mời. Về làm việc thời hạn 3 năm tôi có mua một ngôi nhà nhờ em minh đứng tên hộ vì làm ăn thua lỗ em tôi bán ngôi nhà đó, tôi phải làm sao ? Xin cảm ơn luật sư
Trong trường hợp này của bạn, bạn có nhờ em mình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì dựa theo thực tế em bạn là người sở hữu hợp pháp của mảnh đất đó nên bạn muốn đòi lại mảnh đất đó trừ khi có giấy tờ thỏa thuận giữa hai anh em về việc đứng nhờ.
4. Ủy quyền thanh toán trong hợp đồng xây dựng ?
Kính chào luật sư! Tôi vừa mới xây xong ngôi nhà diện tích 4x17m, gôm 1 tâng trệt, 1sân thượng. Tôi có ký hợp đồng xây Dựng với 1 công ty có tư cách pháp nhân, ho Chi chịu trách nhiệm thi công phần thô ngôi nhà, còn phần hoàn thiên tôi mua nguyên vật liệu, ho chịu trách nhiệm lắp đặt. Đến nay tôi đa thanh toán tiền theo hợp đồng nhưng chủ đầu tư gặp kho khăn trong kinh doanh nên tim cách thoái thoát không xuất hóa đơn và ký biên bản nghiêm thu để tôi làm thủ tục hoàn công ngôi nha mà theo tôi được biết phải có những giấy tờ này mới hoàn công được. Xin luật sư tư vấn giúp tôi nên lam thế nào để được hoàn công và nếu cty Xây dựng đó không cung cấp giấy tờ hóa đơn như vậy có pham luật không. Tôi xin chân thành cảm ơn! Trân trọng!
Người gửi: Long

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi số:1900.6162
Theo quy định pháp luật xây dựng, bạn muốn hoàn công ngôi nhà thì cần phải có những thủ tục hồ sơ giấy tờ như sau:
- Quyền sử dụng đất
- Giay phép xây dựng
- Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình
- Biên lai thuế hoàn thành nghĩa vụ tài chính về thuế xây dựng
Như vậy, nếu chủ đầu tư không ký hóa đơn hay không nghiệm thu cho bạn thì bạn làm đơn khởi kiện ra tòa để yêu cầu giải quyết tranh chấp.
>> Luật sư trả lời: Ủy quyền nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng?
5. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng ?
Các bên:
- Nguyên đơn: Một ngân hàng Pháp
- Bị đơn: Một Cty Ma-rốc
Các vấn đề được đề cập:
1.Bảo đảm thực hiện hợp đồng
2. Bảo đảm độc lập
3. Bảo đảm phụ thuộc
4. Giám định kỹ thuật
Tóm tắt vụ việc:
Ngày 20/9/1982 một Cty xây dựng Pháp đã ký hợp đồng với một Cty Ma-rốc theo đó Cty Pháp sẽ xây dựng một khu liên hợp tại Ma- rốc với tổng trị giá công trình là 211.200.000 Frăng Pháp (FF) và 60.264.000 Dirhams. Hợp đồng này có điều khoản chọn trọng tài ICC. Cty xây dựng còn chấp nhận yêu cầu một ngân hàng Pháp phát hành bảo đảm thực hiện hợp đồng với trị giá 20% tổng trị giá hợp đồng. Ngày 9 tháng 11 năm 1982, ngân hàng Pháp, nguyên đơn trong vụ việc này, đã phát hành một thư bảo đảm thực hiện với trị giá tối đa là 54.575.438,16 FF, tức là 20% trị giá hợp đồng. Ngân hàng tuyên bố trong giấy bảo đảm rằng:
2.Về vấn đề gian lận hay không đúng quy định trong việc lập báo cáo:
3. Về vấn đề liệu các khó khăn trong việc giải thích báo cáo có làm cho bảo đảm trở thành không thể thực hiện được hay không:
Công ty Ma-rốc, bị đơn chịu 1/4.
Công ty luật Minh Khuê (biên tập)