Mục lục bài viết
- 1. Hoàn cảnh ra đời tư tưởng quản lý của Khổng Tử
- 1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời Khổng Tử
- 2. Điều kiện kinh tế xã hội của Trung Quốc cổ đại
- 3. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử
- 3.1 Về cuộc đời của Khổng Tử
- 3.2 Về sự nghiệp của Khổng Tử
- 4. Nội dung tư tưởng quản lý của Khổng Tử
- 4.1 Quan niệm về bản chất con người
- 4.2 Quan niệm về phân chia giai cấp trong xã hội
- 4.3 Quan niệm về phương pháp quản lý
1. Hoàn cảnh ra đời tư tưởng quản lý của Khổng Tử
1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời Khổng Tử
Miền Bắc Trung Quốc cổ đại có hai dòng sông nhỏ: sông Thù và sông Tứ chảy qua khúc dụ. Đó là nơi chôn rau cắt rốn của Y Doãn; nơi có lăng của Thiếu Hạo, có miếu của Chu Công; nơi Khổng Tử mở mắt chào đời, sinh sống thời thơ ấu, giảng dạy lúc trưởng thành cho đến lúc tuổi già, sức yếu, yên nghỉ khi đã lìa đời. Bởi vậy nên nói đến dòng sông Thù, sông Tứ tức là ám chỉ Khổng học, Khổng môn.
.png)
Nhìn bản đồ địa lý Trung Hoa, ta thấy có hai phần rõ rệt:
Một là phần cao nguyên rừng núi, nơi xưng hùng, xưng bá của các nước Tấn, Tần, Tề, Sở.
Hai là phần đồng bằng, chỉ có những nước nhỏ: Vệ, Trần, Tống, Trịnh, Lỗ
- quê hương của Khổng Tử…Nhưng nơi đây lại quy tụ nền văn minh tinh thần Trung Hoa.
Nhìn toàn bản đồ địa lý Trung Hoa cổ đại, ta thấy thực là “giang sơn riêng chiếm một cảnh trời”. Phía Đông là biển cả. Phía Bắc là Hoàng Hà chín khúc cuồn cuộn chảy, dãy Thái Hằng tuyết phủ mây che. Xa hơn là sa mạc Gobi với cát phủ quanh năm. Phía Tây là Tần Lĩnh và Côn Lôn, hai dãy núi điệp trùng hiểm trở. Phía Nam là dãy Hi - mã - lạp sơn hùng vĩ như bức trường thành ngăn cách Trung Hoa với các nước miền Nam như Ấn Độ, Tây Tạng…Vì địa hình, vị trí cách trở Trung Quốc cổ đại rất khó có thể liên lạc, giao lưu với các nước khác trong và ngoài khu vực.
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với hoàn cảnh đất nước, gắn với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội cùng sự phát triển của khoa học Trung Quốc đương thời.
Về chính trị, cùng với Ấn Độ, Trung Quốc là trung tâm văn hóa và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh phương Đông - chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội cùng sự phát triển của khoa học Trung Quốc đương thời.
Nho giáo ra đời vào thời Xuân thu - Chiến quốc, là thời kỳ chính trị có nhiều biến động. Suốt thời Xuân thu, mệnh lệnh của “thiên tử” nhà Chu không còn được tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi. Nạn chư hầu chiếm ngôi “thiên tử’’ đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, cha giết con, anh hại em, vợ hại chồng thường xuyên xảy ra. Các nước chư hầu đua nhau động binh gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau hết sức khốc liệt. Trong khoảng 295 năm thời Xuân thu thì đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh. Những nước chư hầu đang dần lớn mạnh và tranh nhau làm bá thiên hạ. Trong số những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ chỉ có năm nước gọi là cục diện “Ngũ bá”, gồm Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống. Cuối Xuân thu, có thêm Ngô và nước Việt. Do chiến tranh xảy ra liên miên, dân đã nghèo khổ lại càng thêm nghèo khổ, nhiều nơi “thây người chết đầy đường”.
Về kinh tế, trong thời kỳ Xuân thu, việc sử dụng công cụ sản xuất bằng sắt và dùng bò kéo cày đã khá phổ biến, tạo điều kiện cho việc khai khẩn đất hoang, hoàn thiện kỹ thuật canh tác ruộng đất và kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền”, góp phần nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp. Thủ công nghiệp đã có bước phát triển mới, đặc biệt ở sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất, tạo ra một loạt ngành nghề mới bên cạnh ngành nghề cổ truyền, như nghề luyện kim, nghề đúc và rèn sắt, nghề mộc, nghề xây, nghề thuộc da, nghề nhuộm, nghề làm đồ gốm. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng ngày càng phát triển hơn.
Đến thời Chiến quốc kinh tế đã phá triển mạnh. Nghề luyện sắt hưng thịnh, đồ dùng bằng sắt phổ biến rộng rãi, đặc biệt là các công cụ như lưỡi cày, quốc, rìu, dao… Đô thành các nước và một số thành ấp lập bên những đường giao thông trọng yếu trở thành những trấn đô lớn. Thủy lợi và kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp vì thế càng phát triển. Các công trình thủy lợi được xây dựng khắp nơi từ lưu vực Hoàng Hà đến Trường Giang, từ bờ biển phía Đông đến vùng Tứ Xuyên. Kéo theo đó là sự phát triển của các nghề thủ công như luyện kim, đồ gốm, nghề chạm bạc, nghề dệt lụa. Tiền tệ bằng kim loại thịnh hành.
Về văn hóa, ngoài những thể chế, lễ nghi, tế tự, thời Chu đã cải chữ viết, dùng thẻ tre tiện hơn mai rùa và xương thú để nghi những điều muốn nhớ vừa dễ khắc, vừa dễ sắp đặt (khoét lỗ trên thẻ, dùng dây da xỏ thành từng bó - từng quyển); sau họ biết dùng cây nhọn nhúng vào sơn viết lên thẻ tre hoặc lụa, dễ và mau hơn khắc nhiều. Nhờ vậy mà Nhà chu và chư hầu nào cũng có quan chép sử của triều đình.
Về xã hội, ngay thời Xuân thu, trên cơ sở phát triển của sức sản xuất xã hội, đất do nông dân vỡ hoang trở thành ruộng tư ngày càng tăng thêm. Bọn quý tộc có quyền thế chiếm đoạt ruộng đất công ngày càng nhiều. Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành. Đến thời Chiến quốc, do chiến tranh giữa các nước liên tục xảy ra trên quy mô lớn đã làm cho đời sống nhân dân ngày càng khổ hơn, trật tự xã hội đảo lộn, long dân ly tán. Mạnh tử đã viết: “Đánh nhau tranh giành, thì giết người thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất, thì giết người thây chết đầy đồng”. (“Mạnh Tử”, Ly Lâu thượng, 14). Do có chế độ mua bán ruộng đất tự do nên bọn quý tộc, thương nhân giàu có đã chiếm được nhiều ruộng đất của nông dân, trở thành những địa chủ lớn, chúng chuyển sang hình thức thuê mướn công nhân và cho phát canh thu tô. Quan hệ sản xuất phong kiến nông nô dần dần chiếm ưu trong đời sống xã hội.
Chính trong thời đại lịch sử biến chuyển sôi động đó đặt ra một loạt những vấn đề xã hội và triết học mới, buộc các nhà tư tưởng phải quan tâm lý giải, làm nảy sinh một loạt các trường phái triết học đa dạng trong đó có Nho giáo.
2. Điều kiện kinh tế xã hội của Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc cổ đại kéo dài từ thế kỷ XXI trước công nguyên đến cuối thế kỷ III trước công nguyên, với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc lập ra nhà Tần – nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, chấm dứt cảnh phân tán, tranh giành giữa các nước chư hầu.
Lịch sử Trung Quốc cổ đại được chia làm ba thời kỳ tương xứng với ba triều đại: Hạ, Thương (Ân), Chu:
- Hạ: (Khoảng thế kỷ XXI đến thế kỷ XVI trước công nguyên): Dù cho Vũ (con vua Nghiêu, được vua Thuấn nhường ngôi) chưa xưng vương, nhưng là người đặt cơ sở cho nhà Hạ. Thời kỳ này, Trung Quốc chưa có chữ viết, chỉ biết đồng đỏ. Sau bốn thế kỷ tồn tại, đã diệt vong và không để lại nhiều chứng tích cụ thể dưới thời vua Kiệt – bạo chúa nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
- Thương (còn gọi là Ân, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XII trước công nguyên): Thang là người tiêu diệt vua Kiệt lập ra nhà Thương. Thời kỳ này Trung Quốc đã biết sử dụng đồng thau, chữ viết ra đời, nông lịch ra đời, tính được thủy triều... Nhà Thương, giới quý tộc giữ vai trò thống trị và cho rằng đây là trời định, nhà vua là thiên tử, quản lý quốc gia theo mệnh trời.
- Chu (thế kỷ XI đến thế kỷ III trước công nguyên): Văn vương đã tiêu diệt vua Trụ - bạo chúa nhà Thương lập lên nhà Chu. Trong hơn tám thế kỷ tồn tại, nhà Chu được chia làm hai thời kỳ: Tây Chu và Đông Chu. Từ khi thành lập đến năm 771 TCN nhà Chu đóng kinh đô ở Cảo Kinh, phía tây nên gọi là Tây Chu. Ở thời kỳ này Trung Quốc tương đối ổn định. Từ năm 771 TCN, nhà Chu rời kinh đô về Lạc Ấp ở phía Đông nên gọi là Đông Chu. Thời kỳ Đông Chu lạ chia làm hai giai đoạn: Xuân Thu (772 – 481 TCN) và Chiến Quốc (403-221TCN).
Thời kỳ Đông Chu là giai đoạn chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Đồ sắt ra đời và được sử dụng rộng rãi, tạo nên cuộc cách mạng về công cụ sản xuất. Hệ thống thủy lợi được quan tâm, phát triển tạo điều kiện cho nông dân trồng cấy hai vụ lúa. Nhà Chu khuyến khích khai hoang, khẩn hóa, mở rộng đất canh tác, chế tác kim loại, khai khoáng, làm muối, làm thủy tinh, các nghề thêu dệt thủ công, đan lát... xuất hiện các trung tâm mua bán, đô thị, hệ thống giao thông được mở rộng. Thời kỳ ấy đòi hỏi phải xây dựng lại cách thức tổ chức quản lý để ổn định trật tự xã hội, xây dựng xã hội thịnh vượng, cứ vớt thiên hạ khỏi khổ đau.
Trong xã hội, bên cạnh giai cấp quý tộc, nông dân, thợ thủ công, nô lệ xuất hiện thêm hai giai tầng mới là địa chủ và thương nhân. Khi nhà Chu còn thịnh vượng, thì đất đai thuộc sở hữu nhà vua. Vào thời kỳ Chiến Quốc , phần lớn đất đai nằm trong tay tầng lớp địa chủ. Tài sản đã phân hóa xã hội thành hai giai cấp sang hèn, đạo đức xã hội suy thoái, đảo lộn... Tình cảnh tôi giết vua, con giết cha, vợ giết chồng... trở nên phổ biến, thời đại “lễ hư, nhạc hỏng”. Nhân dân đói khổ vì chiến tranh, vì bị áp bức bóc lột nặng nề.
Trong xã hội xuất hiện tầng lớp trí thức mới, họ không trị nước mà bàn luận việc nước, hình thành nhiều học thuyết, trường phái tư tưởng – triết học – chính trị - xã hội khác nhau, hoạt động sôi nổi gọi là phong trào “bách gia chư tử” (bách gia tranh minh, chư tử hưng khởi). Các học thuyết, tư tưởng, trường phái đều hướng vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội. Đây là nét đặc trưng tiêu biểu cho các học thuyết chính trị xã hội Trung Quốc cổ đại.
Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề “bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên. Khổng Tử là một người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt nhất. Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”.
Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”. Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai giai cấp bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình mẫu xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia. Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xây dựng một xã hội nhân bản.
Học thuyết của ông gần gũi với cuộc sống đời thường, đi sâu vào phân tích cách đối nhân xử thế và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với người xung quanh. Học thuyết của ông có thể được minh họa qua những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, học thuyết Khổng Tử đi vào việc nghiên cứu tính bền vững của xã hội. Theo ông chỉ có thể duy trì tính bền vững này một khi giữa những cá nhân có mối quan hệ theo đẳng cấp rõ ràng. Do vậy, những nhà quản lý cấp thấp phải thể hiện sự tôn trọng và tuân phục với nhà quản lý cấp cao (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung).
Thứ hai, gia đình là nguyên mẫu của tất cả tổ chức trong xã hội. Do đó, mỗi cá nhân phải tìm cách duy trì sự phát triển hài hòa của tổ chức bằng cách cho phép những người khác bộc lộ bản chất của mình như phẩm chất, lòng tự trọng và uy tín, đặc biệt trong công việc (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).
Thứ ba, mọi người phải đối xử với nhau như chính bản thân mình. Do vậy, những nhà quản lý cấp cao phải khuyến khích các nhân viên cũng như các nhà quản lý cấp trung gian nâng cao kiến thức và kỹ năng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của toàn tổ chức.
Cuối cùng, mỗi cá nhân trong cuộc sống phải có trách nhiệm học tập mở
mang kiến thức, làm việc chăm chỉ, không hoang phí, rèn luyện đức kiên nhẫn và giữ gìn những giá trị truyền thống của xã hội.
3. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử
3.1 Về cuộc đời của Khổng Tử
Cuộc đời của Khổng Tử được chép một cách kỹ lưỡng trong bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, từ đó giúp chúng ta có thể có một cái nhìn đầy đủ, chi tiết, rõ ràng về nhà giáo dục lỗi lạc của nhân loại
Khổng Tử (551 - 479 TCN) họ Khổng, tên Khâu, tự Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 âm lịch năm Canh Tuất, đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Chu, tương ứng với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông nước Trung Quốc).
Theo truyền thuyết, thủy tổ của ông là Vi Tử thấy anh là vua Trụ tàn bạo, hoang dâm nên can ngăn nhưng không được, vì vậy ông đã bỏ nước mà đi để bảo tồn dòng họ, nên Võ Vương sau khi diệt Trụ rồi phong Vi Tử làm Tống Hầu. Không rõ tới đời thứ mấy (10 hay 12), họ Khổng phải trốn sang nước Lỗ, từ đó suy ra, Khổng Tử là đời thứ 15.
Cha Khổng Tử là Thúc Lương Ngột làm một chức quan nhỏ ở nước Lỗ, ông có phẩm nhất của võ quan và là người dũng cảm. Tinh thần thượng võ và chiến công của Lương Thúc Ngột đã được ghi trong Tả truyện, Tuyên công năm thứ 10 (563 TCN). Võ quan Thúc Lương Ngột, có sách chép là người được mang chức quan đại phu nhưng có sách lại nghi ngờ.
Khúc Lương Ngột giã từ binh khí khoảng tuổi 63. Cuộc sống gia đình theo tiêu chuẩn bình giá lúc bấy giờ cần phải làm nhiều việc. Ông mơ ước có người kế thừa, tiếp tục giương cao vinh quang của họ Khổng nhưng bà vợ trước của ông sinh toàn con gái, tất cả là chín người. Vì vậy, ông phải đi lấy thiếp. Người thiếp này sinh cho ông một người con trai tên là Mạnh Bì nhưng lại bị tàn tật. Cách đặt tên Mạnh (con đầu) như thế đã thể hiện được quyết tâm sinh con nữa để nối dõi tông đường. Ông mơ ước có một người con trai nối dõi khỏe mạnh. Tất nhiên với địa vị võ quan như ông, ông có thể lấy bất kì ai. Song ông không vội. Ông để mắt vào một gia đình quyền quý họ Nhan có ba cô con gái đến tuổi lấy chồng ở đất Khúc Phụ. Người ta đồn rằng hai cô đầu đã từ chối, song hỏi đến cô thứ ba thì lập tức cô đồng ý ngay. Cuộc hôn nhân này được Sử ký gọi là “dã hợp”, chữ này nên được hiểu là cuộc hôn nhân của một người quá già với một người quá trẻ, không hợp với chuẩn mực thông thường. Trên thực tế, cuộc hôn nhân của Thúc Lương Ngột và Nhan thị là cuộc hôn nhân chính thức, có cưới xin.
Thúc Lương Ngột muốn con khỏe mạnh, hai người đã đi cầu tự ở núi Ni Khâu. Gò cầu tự nằm ở phía đông nam, cách Khúc Phụ 30 km. Lòng thành của họ đã cảm động trời đất. Ngày 27 tháng 8 năm Tương Công thứ 22 (tức năm 551 TCN), Khổng Tử đã cất tiếng khóc chào đời.
Khổng Tử sinh trưởng theo lẽ tự nhiên như mọi người, nhưng vì Khổng Tử là một bậc giáo tổ, hậu thế mới đặt ra những câu chuyện huyền bí nói rằng, trước khi sinh ra Khổng Tử, bà Nhan thị thấy con kỳ lân nhả tờ ngọc thư có chữ đề rằng: “Thủy tinh chi tử, kế suy Chu vi tố vương: con của thủy tinh, nối nhà Chu đã suy mà làm vua không ngôi”. Bà Nhan thị thấy vậy, lấy dây lụa buộc vào sừng con kỳ lân. Được mấy ngày thì con kỳ lân đi mất. Đến khi sinh Khổng Tử có hai con rồng xuống quấn chung quanh nhà và có năm ông lão là năm vị sao trên trời xuống đứng dưới sân. Ở trong phòng bà Nhan thị nghe trên trời có âm nhạc và có tiếng nói rằng: “Thiên cảm sinh thánh: Trời cảm lòng cầu nguyện cho sinh ra con thánh”. Những chuyện ấy tuy là chuyện người đời sau bịa đặt ra, nhưng cũng là cái bằng chứng rõ là người đời ưa sự quái lạ, nhất là những người đã làm nên công nghiệp lớn, hoặc đã sáng lập ra tông giáo nào, đều có chuyện lạ để làm cho cái phẩm giá khác người thường. Tuy nhiên, khi Khổng Tử mới được 2 năm 3 tháng thì cha đã qua đời.
Cha mất, bao nhiêu khó khăn dồn lên vai người mẹ trẻ. Bà quả phụ họ Nhan thậm chí không được ôm vào quan tài của chồng và bà cho đến lúc chết cũng không biết mộ chồng ở chỗ nào. Không khí gia đình không cho phép có những điều kiện tối thiểu để chăm sóc đứa bé mới hơn hai năm tuổi. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, Nhan thị đã bồng bế con trở về Khúc Phụ. Nhờ vào sự tần tảo, chăm làm, nhẫn lại của người mẹ mà hai mẹ con đã vượt qua những khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi. Chính trong cuộc sống khó khăn nhưng đầy tinh thần vươn lên ấy, Khổng Tử đã tiếp thu được lối giáo dục tiến bộ của mẹ mình.
Những trò mà ngày nhỏ Khổng Tử hay chơi là “bày các khay để cúng và chơi trò tế lễ” như Tư Mã Thiên đã ghi trong Sử ký. Những trò chơi này vừa thích ứng với tính hiếu động của trẻ vừa có tác dụng giáo dục, hướng dẫn các hành vi cho trẻ.
Năm 15 tuổi, Khổng Tử dốc chí vào học. Học để có kiến thức, có tư cách, làm vốn liếng cho cuộc đời khát khao vi chính của mình. Năm 17 tuổi, mẹ Khổng Tử qua đời (năm 30 tuổi). Khổng Tử cần mai tang mẹ bên cha. Nhưng nơi chôn cha ở đâu, thì không ai chỉ cho. Khổng Tử phải chôn tạm mẹ ở con đường Ngũ Phụ. Sau đó, mẹ của Vãn Phụ người đất Trâu nói cho Khổng Tử nơi mộ cha, cho nên về sau Khổng Tử mới hợp táng cả cha mẹ ở núi Phòng Sơn cách Khúc Phụ 9 km. Năm 19 tuổi, Khổng Tử thành gia lập thất, rồi ra nhận chức Uỷ lại coi sự gạt thóc ở kho, sau lại làm Tư chức lại coi việc nuôi bò dê để dùng về việc cúng tế. Tuy Khổng Tử còn trẻ tuổi, nhưng đã nổi tiếng là người giỏi, cho nên quan nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theo Khổng Tử học lễ. Năm sau vợ ông sinh con trai đặt tên là Lý, tự là Bá Ngư. Sau này vợ ông còn sinh một người con gái nữa và gả cho Công Dã Tràng là một môn sinh.
Khổng Tử là người học theo Nho thuật cho nên Khổng Tử rất chú ý về mặt lễ nghi và những phép tắc của những đế vương đời trước. Năm 28, 29 tuổi Khổng Tử đi học ở Lạc Ấp là chỗ kinh sư nhà Chu nhưng vì đường xa, tiền lộ phí mất nhiều nên không đi được. Sau học trò Ngài là Nam Cung Quát đem việc ấy bẩm với Lỗ hầu, là vua nước Lỗ. Lỗ hầu cho một cỗ xe hai con ngựa và những người hầu hạ đưa người đi.
Ở Lạc Ấp có nhà Minh Đường của Chu Công lập ra để chứa những luật lệ và những bảo vật cùng các hình tượng của các thánh hiền đời trước. Khổng Tử đến đó khảo cứu mọi việc và đi xem những chế độ ở nơi miếu đường cùng những nơi tế Giao, tế Xã. Và ở đâu có việc gì quan hệ đến sự tế lễ là Ngài cũng đi xem xét rất tường tận. Khổng Tử đi hỏi lễ Lão Tử, hỏi nhạc Trành Hoằng. Sách sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng: “Khổng Tử đến hỏi Lão Tử về lễ, Lão Tử đáp rằng: người quân tử gặp thời thì đi xe, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân. Ta nghe: người buôn bán giỏi, khéo chứa của, coi như người không có gì; người quân tử có đức tốt, coi diện mạo như sắc dục và dâm chí đi; những cái ấy đều vô ích cho ông”. Khổng Tử về bảo các đệ tử rằng: “Chim thì ta biết nó bay được, cá thì ta biết nó lội được, giống thú thì ta biết nó chạy được. Chạy, bay, lội, ta có thể chăng lưới mà bắt được, đến như con rồng hì ta không biết nó cưỡi gió, cưỡi mây bay lên trời lúc nào. Hôm nay ta thấy Lão Tử như rồng vậy: Ngô kim nhật kiến Lão Tử, kỳ do long tà.
Khổng Tử ở Lạc Ấp được ít lâu rồi trở về nước Lỗ. Từ đó sự học của Khổng Tử rộng hơn trước và số lượng học trò theo học Khổng Tử ngày càng nhiều. Nhưng vua nước Lỗ vẫn không dùng Khổng Tử. Được mấy năm trong nước có loạn, Khổng Tử bỏ sang nước Tề. Vua nước Tề là Tề hầu đón Khổng Tử đến hỏi việc chính trị. Khổng Tử nói chuyện vừa ý Tề hầu. Tề hầu định lấy đất Ni Khê mà phong cho Khổng Tử, nhưng quan đại phu nước Tề là Yến Anh không thuận, can ngăn Tề hầu không cho. Khổng Tử thấy vậy lại bỏ nước Tề trở về nước Lỗ. Lúc này Khổng Tử đã 35, 36 tuổi, Khổng Tử về nước nhà dạy học trò và suy xét cho tường tận “chữ” của thánh hiền đời trước.
3.2 Về sự nghiệp của Khổng Tử
Theo sách Khuyết lý, Khổng Tử là người cao lớn, có tướng ngũ lộ là: mắt lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, tai bạt, hở răng. Mặt to và có những vạch như quả dưa chín. Bàn tay hổ, ngực rùa, râu rậm, mồm rộng, miệng nói tươi, đi nhanh.
Khổng Tử là người ôn hòa, nghiêm trang và kính cẩn. Sách Luận ngữ chép rằng: “Tử ôn nhi lệ, uy nhi bất mãnh, cung nhi an: Phu tử hòa mà nghiêm, uy mà không dữ, kính cẩn mà an vui tự nhiên” (Thuật nhi, VII). Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học. Bất cứ việc gì, Ngài cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi. Tính Khổng Tử ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận, đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh.
Năm 15 tuổi, Khổng Tử bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình. Năm 20 tuổi, Khổng Tử làm chức quan lại cho nhà họ Quý, một quý tộc có quyền hành nhất ở nước Lỗ thời đó. Mới đầu ông coi việt gạt thóc, sau coi giữ cừu và giữ bò để dùng trong những tang lễ, nổi tiếng là siêng năng, liêm khiết. Năm 30 tuổi tức là năm 20 đời Lỗ Chiêu Công (522 TCN). Năm ấy, vua Cảnh Công nước Tề cùng tướng quốc Án Anh sang nước Lỗ. Khổng Tử đã có cơ hội gặp vua Cảnh Công nước Tề để nói chuyện về chính sự. Qua cuộc nói chuyện này, Khổng Tử có cơ hội thử nghiệm những điều mình đang nung nấu về con đường trị nước an dân và khả năng hiện thực hóa nó. Những nung nấu đó thể được tin dùng, thực hiện khi được một vị vua sáng chú ý tới. Tuy nhiên, vua Tề cũng không thu nhận Khổng Tử vào bộ máy của người Tề. Năm 35 tuổi tức năm 25 đời vua Lỗ Chiêu Công (517 TCN) thì trong nước Lỗ có loạn lớn. Sự việc bắt đầu bằng việc Quý Bình Tử vì việc chọi gà mà mắc lỗi với Lỗ Chiêu Công. Lỗ Chiêu Công đem binh đánh Quý Bình Tử. Quý Bình Tử cùng họ Mạnh và Thúc Tôn hợp lực đánh Lỗ Chiêu Công. Lỗ Chiêu Công thua chạy sang Tề. Vua Tề cho Lỗ Chiêu Công ở ấp Can Hầu.
Sau khi sự kiện này xảy ra, Khổng Tử cũng sang Tề và làm gia hầu cho quan đại phu nước Tề là Cao Chiêu Tử. Ông hy vọng sẽ có cơ hội để yết kiến vua Tề Cảnh Công và cuối cùng Khổng Tử đã gặp được vua Tề để nói chuyện liên quan đến vấn đề Vi chính.
Khổng Tử sống hơn hai năm ở nước Tề, từ mùa đông năm thứ 25 đến mùa đông năm thứ 27 đời Lỗ Chiêu Công (517 đến 515 TCN), rồi lại trở về nước Lỗ.
Năm 37 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ. Từ đây bắt đầu một giai đoạn trong cuộc đời của Khổng Tử mà giai đoạn này đến tận năm 501 TCN, năm Khổng Tử 51 tuổi vua nước Lỗ cho ông làm quan Trung đô tể tức như quan kinh thành phủ doãn ngày nay. Cách một năm thì cải chức làm quan Đại tư khấu, tự hồ bây giờ là quan Hình bộ Thượng thư. Khổng Tử đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định rõ việc tống tang người chết. Lớn nhỏ phân biệt trai gái, không lẫn lộn, người đi ngoài đường thấy của rơi không nhặt, kẻ gian phi không có, hình pháp đặt ra không hề dùng đến.
Khổng Tử làm Đại Tư Khấu được bốn năm thì vua nước Lỗ cất nhắc lên Nhiếp Tướng Sự, nghĩa là cho ông quyền nhiếp việc chính sự trong nước. Khổng Tử cầm quyền được bảy ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần là Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc sách.
Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước: Vệ, Khuông, Trần, Tống, Thái, Sở, để mong thuyết phục các vua chư Hầu chịu đem cái Đạo của Khổng Tử ra ứng dụng để đem lại thái bình thịnh trị cho dân chúng. Nhưng cái Đạo của ông là Vương Đạo nên đi ngược ý đồ Bá Đạo của các vua chư Hầu và quyền lợi của các quan Đại phu nên các vua chư Hầu đều không dám dùng ông.
Rốt cuộc, sau 14 năm đi chu du các nước không thành công, Khổng Tử phải trở về nước Lỗ, có quan Đại Phu Quý Khang Tử sai Công Hoa ra đón Khổng Tử. Phu nhân của Khổng Tử là bà Thượng Quan đã mất trước đó một năm, nhằm năm Lỗ Ai Công thứ 10.
Khi trở về nước Lỗ, Khổng Tử đã 68 tuổi. Ông trở lại quê nhà để mở mang việc dạy học và soạn sách.Tổng số môn đệ của Khổng Tử có lúc lên tới 3000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào hạng tài giỏi, nên gọi là Thất thập nhị Hiền. Khổng Tử san định lại các kinh sách của Thánh Hiền đời trước như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch.
Khổng Tử ghi chú các lời nói của Thánh Hiền đời trước, xếp đặt lại cho có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu, nhất là với Kinh Dịch, ông chú giải rất kỹ. Sau đó, Khổng Tử viết ra sách Xuân Thu, chép những việc của nước Lỗ và của nhà Chu liên hệ với các nước chư Hầu từ đời Lỗ Ẩn Công nguyên niên (721 trước Tây lịch) đến đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước Tây lịch), tổng cộng là 242 năm. Khổng Tử là bậc Chí Nhân Chí Thánh, nhưng ông vẫn khiêm tốn không dám nhận mình là Thánh nhân. Đối với các môn đệ, Khổng Tử rất dễ dãi. Hễ ai theo đúng lễ đến xin học thì ông không bao giờ từ chối. Khổng Tử thu nhận học trò, không kể giàu nghèo, con quan hay con dân. Khổng Tử mở ra một nền giáo dục bình dân đại chúng, đào tạo được một lớp người trí thức mới, tài giỏi và có đức hạnh trong giới bình dân. Sự giáo hóa của Khổng Tử chủ yếu là làm sao cho sáng tỏ cái đức sáng của người, chớ không gom vào trong sự truyền thụ kiến thức. Đây là một phương pháp giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người vậy.
Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, Đức Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, phía Bắc thành nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. Ba ngàn đồ đệ của Khổng Tử đều thương tiếc và than khóc, nguyện để tang Thầy 3 năm. Có hơn 100 môn đệ làm nhà chung quanh phần mộ để lo phụng tự trong 3 năm, riêng Tử Cống ở đó hết 6 năm mới thôi. Chu vi đất quanh mộ của Khổng Tử rộng chừng 100 mẫu mà không hề có cây gai và cỏ may mọc. Học trò bảo nhau đi tìm các thứ hoa thơm cỏ lạ ở các nơi đem về trồng khắp chung quanh.
4. Nội dung tư tưởng quản lý của Khổng Tử
Tư tưởng của Nho giáo khá đa dạng và phong phú bàn về nhiều vấn để về thế giới, con người, về chính trị, xã hội, về luân lý, đạo đức…nhưng có thể khái quát trong tư tưởng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của người quân tử. Nho giáo đã vạch ra lộ trình mà mỗi người quân tử phải thực hiện từ bước “tu thân” – “tề gia” – “trị quốc” – sau đó mới có thể “bình thiên hạ”. Trong các mối quan hệ quan trọng mà mỗi người quân tử phải thực hiện là “tề gia”. “Tề gia” vừa là cái gốc vừa là trung tâm mà mỗi người quân tử phải làm. Để đạt được mục đích bình thiên hạ rất cần biết cách tập hợp xung quan mình những người hiền. Do đó, các tư tưởng quản lý, trong đó tập trung chủ yếu vào bản chất con người, cách dùng người, với các nội dung cụ thể như sau:
4.1 Quan niệm về bản chất con người
Khổng Tử cho rằng bản tính của con người là thiện, luôn sống gần nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hòa đồng, tương tác học hỏi lẫn nhau trong cuộc sống. Con người sinh ra có tính bẩm sinh giống nhau là tính thiện, càng lớn lên con người càng bị tập nhiễm xã hội nên có người tốt, người xấu.
Tính thiện của con người được thể hiện tập trung ở chữ “nhân“ với nội dung là lòng thương yêu con người. Khổng Tử đã nói:“mình cũng như người, cái gì mình muốn có thì người cũng muốn, cái gì mình không muốn thì người cũng không muốn. Do đó, điều gì mà mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác và mình muốn lập thân thì cũng phải giúp cho người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng phải giúp người khác thành đạt”.
Lòng nhân, lòng thương người theo Khổng Tử được đặc trưng bởi lòng thành kính. Ví như: “con cái phụng dưỡng cha mẹ chỉ cho cha mẹ ăn, ống mà không thành kính thì chẳng khác nào như nuôi chó, ngựa trong nhà”. Có hai cách để nhận biết được lòng nhân của con người:
- Một là: lòng nhân sẽ tỷ lệ nghịch với lời nói. Người càng nói nhiều, lời nói càng trau chuốt, càng khéo léo thì chứng tỏ người đó không có lòng nhân. Mà đây là: xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hĩ nhân.
- Hai là: lòng nhân tỷ lệ thuận với sự chất phác, thật thà. Người càng chất phác, thật thà bao nhiêu thì càng có lòng nhân bấy nhiêu (mộc nột cận nhân)
Khổng Tử trước tiên chú trọng vào sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, sau đó nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: "Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình Thiên hạ". Ông đề ra và nhấn mạnh vào những yêu cầu cần có đối với một con người là Ngũ thường: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín". Nhân là lòng từ thiện, Nghĩa là làm tròn bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói. Đây được coi là những chuẩn mực, tiêu chuẩn đánh giá con người trong xã hội Trung Quốc cổ đại. Nếu ai cũng giữ năm đạo đó thì xã hội sẽ bình yên.
4.2 Quan niệm về phân chia giai cấp trong xã hội
Khổng Tử đã chia con người trong xã hội thành ba hạng sau:
- Hạng thứ nhất: Thánh Nhân. Là những người không cần phải học hành, rèn luyện gì. Sinh ra đã biết tất cả, là hạng người đại diện cho sự hoàn mỹ, cao quý nhất trong thiên hạ, mọi người đều tôn vinh, ngưỡng mộ như những vị thánh.
- Hạng thứ hai: Quân tử (kẻ sĩ). Là những người có học hành, rèn luyện mới biết, mới trưởng thành người có ích, có địa vị trong xã hội. Những người này tạo thành nhóm chủ thể quản lý trong xã hội. Ông cũng đưa ra các yêu cầu cần có đối với các chủ thể quản lý: Nhân (lòng thương yêu con người, thái độ, cách ứng xử trong giao tiếp – thực hiện chức nghiệp giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý); Trí (trình độ, năng lực, hiểu biết... của các chủ thể quản lý); Dũng (lòng can đảm, dũng cảm, ý trí không sợ những sức ép, quyết tâm bảo vệ cái đúng – lẽ phải - sự công bằng... của các chủ thể quản lý). Theo ông, chỉ những người có đầy đủ ba đức tính cơ bản trên mới xứng đáng là “phụ mẫu của dân”, xứng đáng với sứ mệnh “trị quốc, bình thiên hạ” của kẻ sĩ.
- Hạng thứ ba: Tiểu nhân (nông dân). Là những người ít học hoặc không được học hành. Họ chủ yếu là lao động chân tay trong các ngành nghề nông nghiệp. Đây là lực lượng người chiếm đại đa số trong xã hội Trung Quốc cổ đại, là khách thể/ đối tượng quản lý trong hoạt động quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền.
Khổng Tử đề cao mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Mối quan hệ này được gắn kết, ràng buộc với nhau, tác động qua lại với nhau bởi lễ và nghĩa theo tư duy, chuẩn mực đương thời.
4.3 Quan niệm về phương pháp quản lý
a. Phương pháp nêu gương: đây là phương pháp quản lý cơ bản và quan trọng. Để áp dụng được phương pháp này, bản thân người quân tử - chủ thể quản lý không những không được cầu danh, cầu lợi cho riêng mình mà phải luôn luôn xem xét lại chính mình ở chín khía cạnh khác nhau: “1/ Khi nhìn phải nhìn cho rõ; 2/ Khi nghe phải nghe cho rõ; 3/ Sắc mặt phải ôn hòa; 4/ Tướng mạo phải nghiêm cung; 5/ Lời nói phải trung thực; 6/ Khi làm việc phải nghiêm trang; 7/ Điều gì còn nghi hoặc phải hỏi cho rõ; 8/ Khi nóng giận phải nghĩ tới hậu quả của nó; 9/khi làm việc lợi phải nghĩ đến việc nghĩa”.
Đức là công cụ quản lý trong tư tưởng Khổng Tử. Để sử dụng được, sử dụng tốt công cụ này đòi hỏi chủ thể quản lý phải tu thân để trở thành tấm gương sang cho mọi người noi theo. Khổng Tử đã nói: “như ai thi hành việc chính trị, cầm quyền cai trị đất nước mà biết đem hết cái đức của mình bổ hóa ra thì mọi người đều phục tùng theo. Tỷ như sao Bắc đẩu ở một chỗ mà mọi vì sao chầu theo”.
Để chủ thể quản lý, người quân tử có định hướng trong tu thân, rèn luyện mình trở thành tấm gương sáng trong quản lý, Khổng Tử đã viết ra “cửu kinh” với các nội dung cơ bản sau: “1/ Tu thân; 2/ Yêu thương họ hàng; 3/ Kính đại thần; 4/ Kính người hiền tài; 5/Thương yêu công bộc; 6/Thương dân như con; 7/Khuyến khích nhân tài, mở mang bách nghệ, thi đua khen thưởng; 8/ Đón tiếp viễn sứ; 9/ Che chở các nước chư hầu”. Theo ông, đây là con đường để các chủ thể quản lý rèn luyện bản thân, giữ chính đạo trong quản lý. “Nếu nhà cầm quyền tự mình giữ theo chính đạo thì chẳng đợi ra lệnh dân cũng ăn ở đúng phép. Còn như tự mình chẳng giữ theo chính đạo, dẫu mình có ra lệnh bộc dân theo, họ cũng chẳng theo” .
b. Phương pháp giáo hóa: Khổng Tử đề cao phương pháp giáo hóa, phản đối phương pháp dùng mệnh lệnh trong quản lý. Ông đã nói:”nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng thì dân sợ mà chẳng đã phạm pháp đó thôi… Vậy, muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải biết dùng lễ tiết, đức hạn mà giáo hóa thì họ sẽ tự hổ thẹn mà cảm hóa để trở lên tốt lành”. Ông cũng khuyến khích nhà cầm quyền “nên cử, dùng những người tốt lành, tài cán. Còn những kẻ yếu sức nên giáo hóa họ. Như vậy, dân khuyên nhau làm điều lành, vui với điều lành”.
Ngoài nêu ra hai phương pháp quản lý trên, Khổng Tử còn đưa ra các yêu cầu của mục tiêu và bàn về nghệ thuật trong quản lý:
Mục tiêu của quản lý, cai trị đất nước được Khổng Tử nêu khá rõ trong “Bát chánh đạo” gồm: 1/ Lương thực đủ ăn; 2/ Cuộc sống sung túc; 3/Giữ gìn lễ nghĩa phong tục; 4/ Dân phải có ruộng đất, nhà cửa; 5/ Coi trọng giáo dục; 6/ Pháp luật nghiêm; 7/ Tiếp đón khách nồng hậu; 8/ Quân sự mạnh.
Để đạt được các mục tiêu trong quản lý, theo Khổng Tử người cai trị phải thực hiện được những điều căn bản, tiền đề bắt buộc: lương thực dồi dào, quân sự mạnh và lòng tin của nhân dân (thực túc, binh cường, dân tín).
Quan hệ trong cai trị, Khổng Tử đề cao dùng “lễ - nghĩa” coi đây là chuẩn mực ứng xử, những quy định bắt buộc trong xã hội. Khi thực hiện các quan hệ trong xã hội mọi người đều phải tuân theo “lễ” tương ứng với vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình (chính danh) thì xã hội mới trật tự, thực hiện được cai trị vương đạo. Theo ông “lễ” có vai trò quan trọng trong việc cai trị vì những lý do sau: 1/ “Lễ” quy định danh phận, thứ bậc người trong xã hội; 2/ “Lễ” có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ ứng xử, “không học lễ, không có gì làm chỗ dựa” (Quý thị - Luận ngữ); 3/ “Lễ“ có tác dụng hình thành thói quen đạo đức, dần hình thành thói quen trong ứng xử của mỗi người. Khổng Tử nêu gương trong giữ nghiêm “lễ”: sau khi can gián không thành, ông đã bỏ vua Lỗ Định Công mà đi mặc dù ông đang giữ chức Đại Tư Khấu.
Theo ông, muốn cai trị trước hết phải “chính danh” – phải hợp với tự nhiên, “mệnh trời” vì “vạn vật đều có chỗ xác định của nó” (vật các đắc kỳ sở). Tương ứng với địa vị cai trị phải có các phẩm chất tương ứng như: nhân, nghĩa, liêm, chính...; đồng thời phải sử dụng “lễ“ tương ứng với địa vị đang được đảm nhận – thừa nhận. Với trọng trách của người có vị trí cai trị xã hội “làm vua phải cư xử cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con” (Nhan uyên – Luận ngữ) . Ông khẳng định: “nếu danh không chính tất loạn, nếu danh chính thì không cần ép buộc dân cũng theo và tất yếu sẽ cai trị xã hội ổn định” (danh chính ngôn thuận, ngôn thuận nghiệp thành. Danh bất chính ngôn bất thuận, ngôn bất thuận nghiệp bất thành). Về chính trị xã hội, một xã hội không loạn lạc cũng là xã hội có trật tự, không lộn xộn. chính vì thế nên ông tổ Nho giáo đã mong ước lập một tổ chức xã hội mà ở đó có trên có dưới phân minh phổ biến thì đó là trật tự danh vị của thuyết chính danh. chính danh là danh và thực phải phù hợp với nhau. Danh và phận của mỗi người, trước hết do các mối quan hệ quy định. Theo ông mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận mà mỗi cá nhân mang cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận phù hợp với cái danh đó. Ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương dùng thuyết lễ trị để đưa ra cách trị nước an dân.
Nội dung cơ bản của đạo đức cua nho giáo chính là luân thường. Có năm luân cơ bản là:cha -con, vua-tôi, anh-em, vợ- chồng, bè- bạn. Trong đó ba điều chính là vua tôi, cha con, vợ chồng gọi là tam cương. Đặc biệt quan trọng là quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con được biểu hiện bằng chữ hiếu. Thường có năm điều chính gọi là ngũ thường đều là những đức tính trời phú cho con người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa. Đạo của Khổng Tử trước hết là đạo nhân nghĩa thì nhân là chủ đạo.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê