Khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, các bên bao giờ cũng muốn giải quyết vụ việc một cách nhanh nhất và triệt để nhất. Đưa vụ án tranh chấp ra xét xử tại toà là phương pháp giải quyết tranh chấp tuy không phải là nhanh nhất nhưng có thể coi là phương pháp có thể giải quyết dứt điểm nhất tranh chấp lao động nói riêng và nhiều loại tranh chấp khác.

1. Đặc trưng của giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua Toà án nhân dân so với các phương thức khác

Trên cơ sở các quy định pháp luật nội dung và hình thức (tố tụng) kết quả của việc đưa vụ án tranh chấp lao động cá nhân ra xét xử là những bản án, quyết định có thể là những bản án, quyết định cuối cùng buộc các bên phải tuân theo. Dưới góc độ pháp lý, phương pháp giải quyết tranh chấp này mang những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại toà án là Toà án nhân dân - cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan thực hiện quyền tư pháp - một trong ba nhánh quyền lực của Nhà nước.

Khác với các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân khác, toà án là cơ quan tài phán nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp, có tư cách pháp nhân. Khi xét xử, các hoạt động của Toà án đều mang tính quyền lực nhà nước. Nên nhiều bản án, quyết định khi giải quyết tranh chấp tại Toà án gần như là những điều khoản cuối cùng buộc các bên phải tuân theo. Đây là điểm ưu việt hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Hoà giải viên hay Hội đồng trọng tài - Quyết định của Toà án là quyết định chung thẩm, có giá trị bắt buộc thi hành đối với mọi cá nhân, tổ chức và trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án tuân thủ chặt chẽ và chịu sự điều chỉnh, giám sát nghiêm ngặt, chi tiết của pháp luật.

Quyết định của Toá án là quyết định chung thẩm, mang tính bắt buộc trên toàn lãnh thổ và với mọi đối tượng. Nên người tiến hành và quy trình ban hành ra những bản án, quyết định đó luôn luôn nằm trong khuôn khổ pháp luật, quy chế toà án và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm sát hoạt động tư pháp. Mặc dù các quy định về thủ tục tố tụng, quy chế hoạt động của Toà án cũng như việc kiểm sát hoạt động xét xử có thể làm hạn chế, giảm tính linh hoạt của cơ chế tự định đoạt, tự quyết định của các bên trong nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nhưng để tới mức phải đưa ra xét xử thì có thể thấy rằng việc tự định đoạt, thoả thuận của các bên không mang lại hiệu quả. Còn đối với Toà án nhân dân, các quy định và sự giám sát nghiêm ngặt có thể là áp lực nhưng đó cũng là công cụ quan trọng giúp thẩm phán đưa ra những phán quyết đúng pháp luật, công bằng.

Thứ ba, phương pháp giải quyết tranh chấp tại toà án, trong đa phần các trường hợp là phương pháp cuối cùng nếu các bên không đạt được kết quả sau khi giải quyết tại Hoà giải viên hoặc Hội đồng trọng tài.

Hai nguyên tắc đầu tiên trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2019 là:

1. Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

2. Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.

Điều này có thể thấy rằng, với bất kỳ tranh chấp nào, chúng ta đều ưu tiên việc giải quyết trong hoà bình, tự định đoạt, hoà giải được là tốt nhất. Thoả thuận, hoà giải được với nhau vừa đỡ tốn thời gian, công sức tiết kiệm chi phí lại giữ được hoà khí cho đôi bên. Đây là lợi lớn nhất mà Nhà nước khi ban hành ra các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động mong muốn. Tuy nhiên, xét trên tính chất và mức độ của hành vi vi phạm dẫn đến tranh chấp, trong một số trường hợp, các bên hoặc một trong các bên có thể không cần thông qua các thủ tục hoà giải hay hội đồng trọng tài mà có thể trực tiếp đâm đơn khởi kiện lên Toà án nhân dân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019, các tranh chấp đó bao gồm:

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp là gì ? Khái niệm về giải quyết tranh chấp ?

- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

- Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

- Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Thứ tư, quyết định, bản án có hiệu lực của Toà án có tính chất bắt buộc được bảo đảm thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước

Đặc điểm này tuy cũng nằm trong đặc điểm thứ nhất nhưng so sánh với hai phương thức giải quyết tranh chấp lao động tại Hoà giải viên và Hội đồng trọng tài thì đây là đặc điểm khá nổi trội của phương thức giải quyết tại Toà án. Các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước thông qua cơ quan Thi hành án dân sự. Tức là, khi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành trong thời gian luật định thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tổ chức thi hành án đối với người có nghĩa cụ. Trường hợp người có nghĩa vụ không thi hành án sẽ bị áp dụng một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án.; Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án nhân dân

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là những tư tưởng, chỉ đạo, chuẩn mực làm cơ sở để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân buộc các bên phải tuân theo trong quá trình giải quyết tranh chấp. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: hệ thống các nguyên tắc trong Bộ luật Lao động năm 2019 và các nguyên tắc tố tụng trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

>> Xem thêm:  Đơn khởi kiện là gì ? Khái niệm về đơn khởi kiện

Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự được quy định tại Chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 gồm các nguyên tắc:

- Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khỏi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác. Toà án không được từ chối giải quyết vì lý do chưa có điều luật áp dụng.

- Tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự;

- Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ. Toà án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự và có quyền tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát khi có yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó. Nếu không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

- Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội, bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.

- Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong tố tụng dân sự;

- Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định pháp luật;

- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự theo quy định pháp luật;

>> Xem thêm:  Thẩm quyền là gì ? Quy định pháp luật về thẩm quyền

- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;

- Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (trừ thủ tục rút gọn);

- Toà án xét xử kịp thời, công bằng và công khai;

- Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự;

- Bảo đảm chế độ hai cấp xét xử;

- Bảo đảm giám đốc việc xét xử theo phạm vi, thẩm quyền để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất;

- Bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

- Tiếng nói và chứng viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt, nếu sử dụng tiếng nói, chữ việt khác phải có người phiên dịch;

- Kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự;

- Đảm bảo trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Toà án;

>> Xem thêm:  Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động ? Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động ?

- Bảo đảm tranh tụng trong xét xử;

- Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự.

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong Bộ luật Lao động năm 2019 gồm có 05 nguyên tắc được quy định tại Điều 180:

1. Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

2. Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.

3. Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.

4. Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

5. Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý.

3. Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền của Toà án được quy định như sau:

Thứ nhất, thẩm quyền theo vụ việc. Theo quy định tại Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự, các tranh chấp lao động cá nhân thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án bao gồm:

- Các tranh chấp không phải thông qua thủ tục hoà giải quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019;

- Tranh chấp lao động cá nhân mà hai bên thoả thuận giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động nhưng hết thời hạn theo quy định mà Ban trọng tài không được thành lập hoặc được thành lập nhưng không ra được phán quyết trọng tài hoặc một trong các bên không thi hành phán quyết trọng tài;

- Các tranh chấp về học nghề, tập nghề;

- Tranh chấp về cho thuê lại lao động;

>> Xem thêm:  Môi giới việc làm có phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện ?

- Tranh chấp về công đoàn (quyền công đoàn và kinh phí công đoàn);

- Tranh chấp về an toàn, vệ sinh lao động;

- Một số tranh chấp khác về lao động.

Thứ hai, thẩm quyền của toà án nhân dân các cấp. Mục 2 Chương III Bộ luật tố tụng Dân sự quy định về thẩm quyền của Toà án các cấp như sau:

Toà án nhân dân cấp huyện (hoặc Toà dân sự của Toà án nhân dân cấp huyện - đối với toà án nhân dân cấp huyện đã có Toà chuyên trách) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp về lao động theo quy định tại Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự (trừ những tranh chấp mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài).

Toà án nhân dân cấp tỉnh (hoặc Toà lao động của Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp về lao động theo quy định tại Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện. Và có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ việc mà bản án, quyết định lao động chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện vị kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.

Thứ ba, thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ. Thẩm quyền giải quyết vụ án lao động nói riêng và các vụ việc dân sự khác nói chung được quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, cụ thể:

- Nếu bị đơn là cá nhân, hoặc cơ quan, tổ chức thì thẩm quyền giải quyết thuộc về toà án nhân dân nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở.

Thứ tư, thẩm quyền của toà án theo sự thoả thuận của các đương sự (Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự): Các đương sự có quyền tự thoả thuận bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn hoặc nơi nguyên đơn có trụ sở giải quyết tranh chấp.

Thứ năm, thẩm quyền của toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật tố tụng Dân sự, nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết trong các trường hợp:

>> Xem thêm:  Hồ sơ xin ly hôn thuận tình nộp tại đâu ?

- Không biết nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của bị đơn hiện tại => Có thể lựa chọn Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng;

- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức => Có thể lựa chọn toà án nơi có trụ sở chính hoặc chi nhánh;

- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam => Có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, nếu nguyên đơn là người lao động => có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

- Tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian => có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

- Nếu tranh chấp lao động cá nhân phát sinh từ quan hệ hợp đồng lao động => có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

- Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau => có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

4. Trường hợp chuyển vụ án lao động cho Toà án có thẩm quyền khi thụ lý không đúng thẩm quyền.

Mặc dù đã có những quy định về thẩm quyền giải quyết của Toà án theo vụ việc, theo cấp, theo lãnh thổ hoặc theo sự lựa chọn của đương sự nhưng trên thực tế, do những yếu tố khách quan, việc thụ lý vụ án sai thẩm quyền hoặc vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều Toà vẫn xảy ra. Theo quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, các tình huống này được giải quyết như sau: Nếu vụ án lao động (hoặc các vụ việc dân sự nói chung) đã được thụ lý mà không đúng thẩm quyền => Toà án đã thụ lý không đúng thẩm quyền ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền và xoá tên vụ án trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi tới Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

5. Một số lưu ý đối với nguyên đơn khi giải quyết tranh chấp tại Toà án

>> Xem thêm:  Hết hạn hợp đồng lao động không ký tiếp thì xử lý như thế nào ? Cách gia hạn hợp đồng lao động ?

Nguyên đơn, khi muốn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nói riêng và các tranh chấp khác nói chung tại Toà án, cần lưu ý các vấn đề sau:

Thứ nhất về điều kiện khởi kiện, nguyên đơn cần xác định vụ việc của mình có đủ điều kiện để khởi kiện giải quyết tranh chấp tại Toà án hay không.

- Nguyên đơn hoặc người nộp đơn cần tự xác định xem mình có phải là người có quyền khởi kiện hay không - Trường hợp không có quyền khởi kiện làm một trong các căn cứ để Toà án trả lại đơn khởi kiện. Nếu đã là người có quyền khởi kiện thì người khởi kiện phải đáp ứng đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Bên cạnh đó, cần xác định vụ án có đáp ứng điều kiện để giải quyết tại Toà án không? Các điều kiện trong tranh chấp lao động cá nhân thường là các điều kiện về tiền tố tụng - điều kiện về các tranh chấp phải thông qua hoà giải tại Hoà giải viên lao động mới được khởi kiện.

- Cần lưu ý trường hợp nếu vụ tranh chấp đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án, quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thông thường đây sẽ là căn cứ để Toà án trả lại đơn khởi kiện;

- Thời hiệu khởi kiện, đây là vấn đề mà nguyên đơn hoặc bị đơn có thể rất quan tâm. Hiện tại, thời hiệu khởi kiện không phải là căn cứ để Toà án trả lại đơn hay không thụ lý vụ án. Nhưng theo yêu cầu của các bên về ấp dụng thời hiệu khởi kiện, đây sẽ là căn cứ để định chỉ giải quyết vụ án.

- Sau khi xác định các yếu tố trên, cuối cùng, cũng là nội dung quan trọng, cần xác định đúng thẩm quyền của Toà án nhân dân. Trước tiên là xác định đúng thẩm quyền theo vụ việc, tiếp đến là thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ, sau đó là thẩm quyền theo yêu cầu của nguyên đơn nếu không xác định được thẩm quyền theo lãnh thổ.

Thứ hai, lưu ý tiếp theo về việc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện một cách đầy đủ và chính xác nhất theo quy định pháp luật về hình thức đơn khởi kiện cũng như các tài liệu đi kèm.

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên hoặc các nội dung khác liên quan tới giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án, Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Điểm mới về giải quyết tranh chấp lao động áp dụng từ năm 2021

>> Xem thêm:  Tranh chấp lao động là gì ? Quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nộp đơn khởi kiện vụ án lao động khi đã hết thời hiệu có được giải quyết không ?

Trả lời:

Trả lời:

Hết thời hiệu khởi kiện, theo quy định tại Bộ luật tố tụng Dân sự không phải là căn cứ để Toà án không thụ lý vụ án hoặc trả lại đơn khởi kiện. Do vậy, nếu vụ án mặc dù đã hết thời hiệu, nguyên đơn vẫn có thể nộp đơn và được Toà án thụ lý.

Tuy nhiên, nếu bị đơn có yêu cầu áp dụng về thời hiệu khởi kiện trước khi Toá án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc thì vụ án sẽ bị đình chỉ theo quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Trân trọng!

Câu hỏi: Tính chung thẩm của bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án nghĩa là gì ?

Trả lời:

Trả lời:

Thực chất, không phải bản án, quyết định nào của Toà án cũng mang tính chung thẩm. Chung thẩm là từ ghép của từ "chung" - chung kết - nghĩa là "cuối cùng" và thẩm - thẩm tra - nghĩa là xem xét lại bản án, quyết định của toà án trước bị kháng nghị, kháng cáo. Bản án, quyết định mang tính chung thẩm có thể hiểu là bản án, quyết định đó là cuối cung, không bị kháng nghị, kháng cáo, buộc các bên phải thực hiện theo. 

Thông thường, tính chất này chỉ xuất hiện trong bản án, quyết định của toà án, thoả thuận giải quyết thông qua Hoà giải viên lao động hoặc Hội đồng trọng tài đều có thể bị các bên không tôn trong thực hiện. Nhưng nếu bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà các bên không thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế bởi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước. Đó là tính chung thẩm - cuối cùng, cưỡng chế thực hiện bởi quyền lực Nhà nước.

Trân trọng!

Câu hỏi: Thời hiệu yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp lao động là bao lâu ?

Trả lời:

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Trường hợp người khởi kiên chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Trân trọng!