1. Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được hiểu là gì?

Căn cứ tại Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019, Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động. 

Khi phát sinh tranh chấp, các bên có thể giải quyết tranh chấp bằng việc thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp đưa ra các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết thì phải đáp ứng về thời hiệu giải quyết theo quy định.

Thời hiệu giải quyết tranh chấp được hiểu là khoảng thời gian pháp luật quy định đối mà trong khoảng thời gian đó các bên tranh chấp được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động. Khi hết thời hiệu giải quyết, các bên không được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp, nếu các bên vẫn nộp đơn yêu cầu giải quyết ngoài thời hạn này thì sẽ không được thụ lý giải quyết. Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động đối với hình thức giải quyết khác nhau thì thời hiệu sẽ khác nhau.

 

2. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân?

Căn cứ tại Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa ra 03 cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, bao gồm:

- Hòa giải viên lao động;

- Hội đồng trọng tài lao động;

- Tòa án nhân dân.

Mỗi phương pháp giải quyết sẽ có thời hiệu giải quyết riêng theo quy định, cụ thể:

- Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

- Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

- Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Cũng tại Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 150 quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ví dụ: Trường hợp người sử dụng lao động ra quyết định kỷ luật người lao động vào ngày 03/11/2022 nhưng đến 10/11/2022 người lao động mới nhận được quyết định này, và trong quyết định đó đưa ra những lỗi sai và kỷ luật không đúng với người lao động nên đã phát sinh tranh chấp, trong trường hợp này thời hiệu giải quyết tranh chấp sẽ tính từ ngày người lao động nhận được, người lao động phải chứng minh sự kiện bất khả kháng hoặc lý do nhận quyết định kỷ luật đó muộn.

 

3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động đối với cá nhân.

3.1. Giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải viên lao động.

Căn cứ tại Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 Cá nhân phải thực hiện thương lượng, hòa giải tại Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, tuy nhiên đối với một sso loại tranh chấp lao động cá nhân nhất định có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích một cách nghiêm trọng thì không cần phải giải quyết thông qua hòa giải viên, cụ thể các tranh chấp sau đây:

- Tranh chấp liên quan đến xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp phát sinh giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

-  Tranh chấp liên quan đến bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

- Tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

 - Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Trong thời hiệu giải quyết tranh chấp theo quy định, các bên phải tiến hành gửi đơn đến hòa giải viên hoặc gửi đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc ủy ban nhân . Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

Tại phiên hợp hòa giải phải có mặt các bên hoặc đại diện của các bên tranh chấp, các bên cũng có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải. Khi mở phiên họp, hoà giải viên có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng

- Trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

- Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành ghi nhận sự thống nhất ý chí các bên. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

- Trường hợp phương án hòa giải của hòa giải viên không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản

- Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

* Khi tranh chấp thuộc trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải hoặc hết thời hạn hòa giải nêu trên mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:

- Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của BLLĐ 2019;

- Yêu cầu Tòa án giải quyết.

 

3.2. Giải quyết tranh chấp thông qua hội đồng trọng tài lao động

Trong thời hiệu quy định về giải quyết tranh chấp, Các bên có thể thỏa thuận yêu cầu sự giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền như Hội đồng trọng tài lao động.

Căn cứ tại Điều 189 BLLĐ 2019:

- Trong trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải, hết thời hạn hòa giải hoặc hòa giải không thành các bên tranh chấp có thể thỏa thuận với nhau yêu cầu Hội đồng trọng tài gaiir quyết tranh chấp. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết tức là không được gửi đơn đến hai cơ quan này cùng một lúc trong trường hợp hết thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

 

3.3.  Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án nhân dân.

Theo trình tự thủ tục nêu trên thì Tòa án là phương thức giải quyết cuối cùng của mọi loại tranh chấp, tranh chấp lao động cũng là loại tranh chấp về dân sự và thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các bên có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp trong những trường hợp sau đây:

- Tranh chấp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải;

- Hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;

- Trường hợp hòa giải không thành.

Giai đoạn đã yêu cầu được giải quyết tranh chấp bởi Hội đồng trọng tài lao động:

- Hết thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp Ban trọng tài lao động không được thành lập;

- Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp.

- Khi một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.

* Ngoài đáp ứng đủ điều kiện nêu trên, người khởi kiện cũng phải đáp ứng về thời hiệu khởi kiện, đơn khởi kiện, chủ thể khởi kiện, Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án sẽ tiếp  đơn nếu đáp ứng đủ điều kiện nêu trên. 

* Người khởi kiện nộp đơn trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính.

Cuối cùng, Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

 

4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động.

Khi tiến hành giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, mọi cơ quan, cá nhân tổ chức phải tuân theo nguyên tắc quy định tại Điều 180 Bộ luật Lao động 2019, cụ thể:

- Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

- Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.

- Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.

- Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

- Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý.

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Nếu có vướng mắc liên quan đến bài viết hay liên quan đến lĩnh vực Lao động, hãy gọi: 19006162 để được Luật sư tư vấn qua tổng đài trực tuyến.