luôn tồn tại những mâu thuẫn nhất định, điển hình là mâu thuẫn về quyền và lợi ích. Người lao động muốn có nhiều quyền, lợi và giảm bớt nghĩa vụ trong khi đó, người quản lý, sử dụng lao động luôn muốn tăng nghĩa vụ và tối thiểu lợi ích của người lao động đến mức cho phép. Về cơ bản, không phải lúc nào mâu thuẫn đó cũng bùng nổ. Trong nội tại quan hệ lao động nói riêng và các mối quan hệ khác nói chung, thông thường, những mâu thuẫn đó luôn trong trạng thái "ngủ đông" bởi sự điều hoà của hai công cụ là "đạo đức" và "pháp luật". Mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động chỉ trở thành tranh chấp khi một trong các bên hoặc cả hai bên vi phạm đạo đức, pháp luật trong quan hệ lao động, đánh thức mâu thuẫn nhưng sau đó lại không thể tự thương lương, giải quyết được mới trở thành tranh chấp.

1. Tranh chấp lao động cá nhân là gì ?

Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019, tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động hoặc các quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động như tranh chấp giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù tranh chấp lao động cá nhân diễn ra với quy mô nhỏ nhưng loại tranh chấp này lại khá phổ biến trên thực tế và gần như chiếm đa số trong các tranh chấp lao động. Trong một số trường hợp, tranh chấp lao động cá nhân không có nghĩa là chỉ có một người lao động xảy ra tranh chấp. Thực tế hiện nay, trong nhiều vụ tranh chấp có nhiều người lao động tham gia. Nếu mỗi người tham gia với mục đích riêng, lợi ích riêng thì xác định là tranh chấp lao động cá nhân. Nhưng nếu cũng những con người ấy nhưng họ hướng tới quyền lợi của tập thể thì lại xác định đó là tranh chấp lao động tập thể. Xác định đúng loại tranh chấp lao động mang ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm bảo về được tối đa quyền và lợi ích của các bên trong tranh chấp.

2. Đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động cá nhân là một trong các loại tranh chấp lao động nên trước hết, tranh chấp lao động cũng mang các đặc điểm chung của tranh chấp lao động. Các đặc điểm của tranh chấp lao động nói chung, mời Quý Khách hàng tham khảo bài viết sau:

https://luatminhkhue.vn/quy-dinh-ve-tranh-chap-lao-dong-theo-phap-luat-hien-hanh.aspx. Bên cạnh đó, tranh chấp lao động cá nhân cũng mang một số nét đặc trưng sau:

Số lượng chủ thể tham gia tranh chấp.

Tranh chấp lao động cá nhân thông thường là tranh chấp giữa một cá nhân người lao động với người sử dụng lao động. Nhưng đôi khi, chúng ta hay thấy, trong tranh chấp này lại có sự xuất hiện của nhiều người lao động. Việc tham gia của nhiều người lao động trong tranh chấp lao động cá nhân dễ gây nhầm lẫn với tranh chấp lao động tập thể. Và pháp luật hiện nay cũng không quy định bao nhiêu người lao động tham gia thì quy về tranh chấp lao động cá nhân hay từ bao nhiêu người lao động trở lên thì xếp vào loại tranh chấp lao động tập thể. Tuy nhiên, điểm đặc thù để phân biệt giữa hai loại tranh chấp này là số lượng chủ thể tham gia tranh chấp lao động tập thể sẽ gồm toàn bộ người lao động trong đơn vị, phân xưởng hoặc công ty. Còn số lượng người lao động tham gia tranh chấp lao động cá nhân chỉ là một người hoặc một số người trong tập thể mà thôi.

Dẫu vậy, không thể căn cứ vào số lượng người lao động tham gia để xác định tranh chấp là loại nào. Vì nhiều trường hợp có thể một người lao động tham gia nhưng lại là đại diện cho cả tập thể và có trường hợp nhiều người lao động tham gia nhưng lại chỉ vì mục đích của riêng mình. Để xác định loại tranh chấp, còn cần xem xét các đặc trưng khác như đặc trưng tiếp theo - Mục đích của tranh chấp lao động cá nhân.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp là gì ? Khái niệm về giải quyết tranh chấp ?

Mục đích của tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của một cá nhân người lao động, ngươi sử dụng lao động. Thông thường, các tranh chấp này phát sinh do sự vi phạm nghĩa vụ của một hoặc cả hai bên trên cơ sở hợp đồng lao động đã giao kết. Các điều khoản về quyền, nghĩa vụ và chế độ phúc lợi bị xâm phạm, ảnh hưởng tới chủ thể trong hợp đồng nên các bên có thể tự giải quyết hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Mục đích của giải quyết tranh chấp là đòi quyền lợi cho cá nhân người lao động hoặc người sử dụng lao động. Trong trường hợp số lượng người lao động hoặc người sủ dụng lao động tham gia nhiều nhưng mỗi người chỉ hướng tới mục đích cá nhân như có người đòi trả lương đúng hạn, có người đòi bồi thường thiệt hại khi bị sa thải, hoặc yêu cầu bồi thường do tự ý nghỉ việc,... Mục đích tranh chấp khác nhau, nên xác định là tranh chấp lao động cá nhân.

Quy mô tranh chấp lao động cá nhân

Trên thực tế, tranh chấp lao động cá nhân tuy nhiều nhưng do chỉ phát sinh giữa một hoặc vài người lao động, người sử dụng lao động nên quy mô những tranh chấp này thường nhỏ lẻ, đơn giản, không có tổ chức. Cá nhân hoặc nhiều cá nhân tham gia tranh chấp không có sự liên kết, thống nhất về ý chí và phần lớn là không cùng mục đích. Cho nên, về cơ bản mức độ ảnh hưởng của tranh chấp lao động cá nhân là không lớn. Tuy nhiên, nếu tranh chấp lao động cá nhân diễn ra thường xuyên hoặc có sự chuyển hoá thành tranh chấp lao động tập thể thì điều này không còn là vấn đề nhỏ nữa. Nên việc cấp thiết là dự đoán, xác định và giải quyết một cách triểt để, có hiểu quả tranh chấp lao động cá nhân, tranh gây ảnh hưởng, kích động tới các đối tượng khác đồng thời tránh việc chuyển hoá sang loại hình tranh chấp khác nghiêm trọng hơn.

3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động cá nhân, xét về bản chất cũng được coi là một loại tranh chấp dân sự. Về cơ bản, theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2019, khi giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, các bên cần tuân thủ nguyên tắc sau:

- Trước tiên các bên trong tranh chấp có quyền tự định đoạt thông qua thương lượng - Tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể trong tranh chấp;

- Coi trọng việc giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái với quy định pháp luật;

- Đảm bảo tính công khai, minh bạch, khách quan, nhanh chóng, kịp thời trên tinh thần thượng tôn pháp luật;

- Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động;

>> Xem thêm:  Cưỡng bức lao động là gì ? Khái niệm về cưỡng bức lao động

- Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giải quyết tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý.

4. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

- Hoà giải viên lao động;

- Hội đồng trọng tài lao động;

- Toà án nhân dân.

Quy định "Hội đồng trọng tại lao động" là tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là điểm mới thêm vào trong Bộ luật Lao động năm 2019 so với Bộ luật Lao động cũ (năm 2012). Trên cơ sở nguyên tắc Coi trọng việc giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái với quy định pháp luật việc bổ sung chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân này sẽ giúp các bên có cơ hội ngồi lại thương lượng trên cơ sở hoà bình, tránh việc tranh chấp, đối đầu tại cơ quan tài phán.

5. Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hoà giải viên lao động

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019, thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

>> Xem thêm:  Làm việc ban đêm là gì ? Cách tính tiền lương làm việc ban đêm ?

Các tranh chấp không phải thông qua thủ tục hoà giải của Hoà giải viên Lao động

Hầu hết các tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hoà giải của Hoà giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết, trừ các tranh chấp sau đây có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết luôn mà không phải qua bước Hoà giải viên lao động, gồm có:

- Tranh chấp về việc xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp lao động cá nhân giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

-Tranh chấp về thực hiện bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

- Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Hoà giải viên lao động

- Các bên tranh chấp có thể gửi đơn tới Hoà giải viên lao động hoặc gửi thông qua cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Uỷ ban nhân dân (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội). Trường hợp gửi về cơ quan chuyên môn về lao động thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động có trách nhiệm chuyển yêu cầu đến hòa giải viên lao động đối với trường hợp bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải lao động;

>> Xem thêm:  Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động ? Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động ?

- Trường hợp gửi đơn trực tiếp tới Hoà giải viên lao động, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quản lý về lao động thuộc Uỷ ban nhân dân, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

- Các bên tranh chấp có thể tự tham gia hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

- Khi tiến hành cuộc họp, hoà giải viên có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp;

- Trường hợp các bên thoả thuận được thì hoà giải viên lập biên bản hoà giải thành. Nếu các bên không thoả thuận được, hoà giải viên lao động đưa ra phương án để các bên xem xét. Nếu các bên chấp nhận thì lập biên bản hoà giải thành;

- Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành.

- Biên bản hoà giải thành hoặc không thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

- Trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày lập biên bản, phải gửi bản sao biên bản tới các bên tranh chấp.

Lưu ý: Trường hợp trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn 05 ngày làm việc mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Môi giới việc làm có phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thưa Luật sư, thời hạn yêu cầu hoà giải viên lao động giải quyết tranh chấp lao động là bao lâu ?

Trả lời:

Trả lời:

Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Trân trọng!

Câu hỏi: Thưa Luật sư, thời hạn tối đa để hoà giải viên giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là bao lâu ?

Trả lời:

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2 điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019, thời hạn để hoà giải viên kết thúc việc hoà giải là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Trân trọng!

 

Câu hỏi: Mọi tranh chấp lao động đều phải tiến hành hoà giải có phải không thưa Luật sư ?

Trả lời:

Trả lời:

Các tranh chấp tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 được liệt kê sau đây là các tranh chấp không bắt buộc phải thông qua thủ tục hoà giải, đó là các tranh chấp:

"a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại."

Trân trọng!