1. Bản chất pháp lý của công ty
Ngày nay người ta biết tới nhiều học thuyết khác nhau liên quan tới bản chất pháp lý của công ty. Các học thuyết được nhiều học giả Hoa Kỳ nhắc tới bao gồm: Học thuyết hư câù hay thực thể nhân tạo (Fiction or artificial entity theory) ; Học thuyết thừa nhận (Fiat theory) hay Học thuyết nhượng quyền (Concession theory) ; Học thuyết hiện thực (Realistic theory) hay Học thuyết về tính vốn có (Inherence theory); Học thuyết doanh nghiệp (Enterprise theory); Học thuyết biểu tượng (Symbol theory) ; Học thuyết môì liên hệ hợp đồng (Nexus of contracts) ; và Học thuyết hợp đổng. Pháp luật Hoa Kỳ có sự phân biệt giữa thương nhân đơn lẻ (sole proprietorship) và hợp danh (partnership) với công ty đôĩ vốn (corporation). Do vậy hầu hết các học thuyết này giải thích cho bản chất pháp lý của công ty đối vốn (corporation).
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162 Học thuyết hư câu hay thực thể nhân tạo xem công ty là một pháp nhân hay thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà chức trách. Học thuyết này bắt nguồn từ Luật La Mã và Luật Giáo hội với quan niệm về Persona ficta.Học thuyết thừa nhận hay Học thuyết nhượng quyêh xem sự tồn tại của công ty bởi sự nhượng bộ của nhà nước, nên những chủ sở hữu hay những người đầu tư có đặc quyền kinh doanh như một công ty.Học thuyết hiện thực hay Học thuyết về tính vốn có xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại.Học thuyết doanh nghiệp nhân mạnh tói doanh nghiệp thương mại cơ bản, không nhâh mạnh tới thực thể- sự liên kết của những thực thê’ câ'u thành.Học thuyết biểu tượng xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của những cá nhân tạo thành công ty có nhân tính nhóm.Học thuyết mối liên hệ hợp đổng được các nhà kinh tê' học phát triển, xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gổm một mạng lưới các quan hệ hợp đổng giữa những người liên quan với nhau như người đầu tư, người cung câ'p lao động, nguyên vật liệu, vốn, cũng như các khách hàng của công ty. Theo học thuye't này, những người điều hành công ty được xem là các nhân vật trung tâm có chức năng kết hợp các nguồn lực để tiêh hành các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận tối đa. Còn cổ đông và những chủ nợ khác chỉ là những người chờ đợi thu nhập từ hoạt động của công ty .
Trong các học thuyết đó, học thuyết hợp đồng quan niệm công ty là một hợp đổng và thường được sử dụng đê’ giải quyết mối quan hệ giữa các thành viên của công ty với nhau; mốì quan hệ giữa các thành viên của công ty với bản thân công ty; và môi quan hệ giữa công ty và nhà nước .
Còn có nhiều học thuyết khác về bản châ't của công ty. Tâ't cả chúng đã góp phần cho việc giải thích khái niệm hiện đại về công ty. Nhưng mỗi học thuyết chỉ chiếm một vị trí nhất định trong việc giải thích và không bao trùm được toàn bộ .
Ngày nay, khi nghiên cứu về các công ty, người ta cho rằng, sự liên kết tạo nên chúng bao gồm ba bước: (1) phát hiện ra cơ hội kinh doanh; (2) điều tra nhằm xác định tính khả thi của hoạt động kinh doanh dự kiến; và (3) hội họp cùng nhau góp sức người, sức của để tổ chức hoạt động kinh doanh . Những hoạt động này thường được thê’ hiện dưới dạng hợp đổng .
Vâh đề cần phải nhấn mạnh ở đây là những thương nhân hoặc những nhà đầu tư, khi liên kết lại với nhau trong một hình thức công ty nhất định, đã cùng nhau thoả thuận với mục đích xác lập quyền lợi của mỗi bên trong sự liên kê't đó, đồng thời xác định mục tiêu và các nguyên tắc hoạt động cho công ty của họ mà được gọi là hợp đổng thành lập công ty hay khế ước lập hội. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan định nghĩa: "Họp đổng thành lập một hợp danh hay một công ty là họp đồng theo đó hai hay nhiều người thỏa thuận cùng nhau liên kết trong trong một cam kết chung với mục tiêu chia sẻ các lợi ích thu được từ đó "
Các bộ luật dân sự hay bộ luật thương mại của các nước theo truyền thôhg Civil Law khi định nghĩa khái niệm công ty thường khai thác bản ciiất pháp lý của công ty là một hành vi pháp lý hay hành vi thương mại. Chẳng hạn: Bộ luật Dân sự Pháp định nghĩa:
"Công ty là một hợp đổng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được qua hoạt động đó.
Công ty có thể được thành lập trong những trường do luật định bằng hành vi tự nguyện của một người.
Các thành viên công ty cam kết cùng chịu lỗ" (Điều 1832).
Bộ luật Dân sự Đức 1900 qui định: "Việc thành lập một hội có tư cách pháp nhân, trong chừng mực mà không dựa vào các qui định dưới đây, được điều chỉnh bởi khế ước lập hội" (Điều 25). Và đôì với công ty hợp danh, Bộ luật này cũng đã nêu bản chất pháp lý của nó thông qua Điều 705 như sau: "Bằng hợp đổng họp danh, các thành viên tự ràng buộơmình để cùng thúc đẩy đạt mục tiêu chung được qui định trong hợp đổng đó mà cụ thể là đóng góp theo thoả thuận".
Bộ luật Dân sự Ý xác định: "Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia sẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó"
Bộ luật Thưong mại Czech qui định: "Một công ty được thành lập trên cơ sở một họp đổng lập hội (thỏa thuận thành lập hoặc thoả thuận hợp danh) được ký kết bởi mọi người sáng lập, trừ khi các qui định của Bộ luật này đòi hỏi khác"
Cùng với những tư tưởng đó, các Bộ luật Dân sự của các chê' độ cũ ở Việt Nam đều có một chương dành riêng cho khê'ước lập hội xác định rõ bản châ't pháp lý của công ty hay thương hội là hợp đổng.
Hoa Kỳ phát triển nhiều học thuyết khác nhau về công ty như đã biết mà trong đó có học thuyết xem công ty là hợp đồng bên cạnh râ't nhiều học thuyết khác, nhưng luôn luôn coi hợp danh là hợp đổng.
1.1 Pháp luật cần quy định các điều kiện để hành vi pháp lý thành lập công ty có hiệu lực, và sự vô hiệu,
cũng như hậu quả của sự vô hiệu của hành vi đó.
Điều kiện để hành vi thành lập công ty có hiệu lực không có sự khác biệt với các điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý hay giao dịch dân sự nói chung. Tuy nhiên năng cách của những người thành lập công ty cần phải được phân biệt trong trường hợp thành lập công ty đôì nhân và công ty đối vốn, và trong trường hợp giữa thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và thành viên góp vốn trong công ty hợp danh hữu hạn (hay công ty hợp vốn đơn giản). Hình thức của hành vi thành lập công ty cũng bị đòi hỏi đặc biệt bởi pháp luật nhằm bảo vệ cộng đổng trước sự tích tụ tư bản có khả năng ảnh hưởng lớn tới cộng đổng.
Trong các qui định pháp luật về sự vô hiệu của hành vi thành lập công ty và hậu quả của sự vô hiệu, cần làm rõ vân đề hủy bỏ công ty do vô hiệu. Gắn với sự vô hiệu của công ty cần chú ý tới trường hợp công ty đã giao dịch dân sự hay thương mại với người thứ ba ngay tình trước khi bị tuyên bố là vô hiệu. Để bảo đảm quyển lợi cho người thứ ba trong trường hợp này, người ta thường mượn giải pháp từ công ty thực tê) có nghĩa là coi công ty này là một công ty thực tê) nên dù nó được thành lập dưới hình thức nào, thì các thành viên của nó phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định đối với các khoản nợ của công ty.
1.2 Chỉ tòa án có thẩm quyền tuyên hành vi thành lập công ty vô hiệu hay công ty vô hiệu.
Các cơ quan hành chính không có thẩm quyền tuyên vô hiệu như vậy. Luật Doanh nghiệp 2020 hiện nay không làm rõ vân đề này và dường như mở rộng không thỏa đáng quyền hạn của các cơ quan đăng ký kinh doanh liên quan tới quyền sở hữu của tư nhân, trong khi không đưa ra được giải pháp bảo vệ các chủ nợ một cách hữu hiệu và không qui định về trình tự, thủ tục cần thiết và đáng tin cậy cho việc thực các quyền hạn này như đã được nói đêh tại mục nói về qui chế thương nhân.
1.3 Các đạo luật về công ty hay doanh nghiệp cần tập trung vào việc giải thích cho ý chí của các đương sự,
Khi họ không biểu lộ ý chí hay biểu lộ ý chí không rõ ràng, để có thê’ từ đó tìm ra các giải pháp cho các trường hợp tranh châp xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên nguyên tắc tự do ý chí có thê’ bị hạn chế trong những trường họp nhất định nhằm bảo vệ lợi ích của người thứ ba. Chẳng hạn pháp luật cần qui định chặt chẽ về quản trị công ty cổ phần, nhất là đối với công ty niêm yết, có nghĩa là nhiều khi pháp luật ấn định thay cho ý chí của các cô’ đông, song không nhất thiết phải làm như vậy đôì với công ty hợp danh.
2. Điều lệ công ty
Điều lệ công ty là văn bản thê’ hiện ý chí tạo lập công ty của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu của công ty. Do đó nó có thê’ là một văn bản họp đồng hoặc là một văn bản biêù lộ ý chí đơn phương. Sự gặp gỡ của các ý chí hay ý chí đơn phương thành lập công ty có nhiều đặc điểm khác biệt với các loại hợp đổng hay việc biểu lộ ý chí đơn phương thông thường ở chỗ chúng tạo ra một pháp nhân dưới hình thức công ty mà có khả năng gây ảnh hưởng lớn đêh xã hội và người thứ ba. Đê’ bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và người thứ ba, đổng thời bảo hộ quan hệ hợp đổng, nhất là quyêh lợi của các bên, và dẫn dắt công ty đi theo định hướng nhất định phục vụ tô't cho sự phát triển kinh tế, xã hội, pháp luật của các nước thường đòi hỏi loại hành vi pháp lý này phải thê’ hiện nhiều điều kiện bắt buộc. Chẳng hạn Bộ luật Dân sự Pháp qui định: "Nêù điều lệ không có tất cả các nội dung bắt buộc theo qui định của pháp luật, quên hay không thực hiện đúng thể thức qui định về việc thành lập công ty thì mọi người có liên quan đều có quyền yêu cầu toà án quyết định họp thức hoá việc thành lập công ty, nêù không sẽ bị phạt tiền" (Điều 1839).
Qua đây, có một vâh đề xuâ't hiện- đó là: Các điều khoản của hành vi thành lập công ty được ghi nhận ở tài liệu nào của công ty? Hiện nay, có hai khuynh hướng qui định về hợp đồng thành lập công ty của pháp luật các nước trên thê' giói. Khuynh hướng thứ nhất qui định chi tiết về cả họp đồng thành lập công ty và điều lệ của công ty như Anh quốc, Malaysia, Singapore. Chẳng hạn pháp luật của Anh quốc qui định hợp đồng thành lập công ty là một chứng thư được ký kết bởi ít nhất hai thành viên sáng lập (subscriber hay promoter) tuyên bô' và xác định hiến pháp và quyền lực của công ty mà trong đó phải có năm điều khoản bắt buộc như: tên của công ty, trụ sở đăng ký của công ty, mục tiêu của công ty, trách nhiệm của các thành viên của công ty, và sô' vôh cổ phần được phát hành và dạng cổ phần . Theo hình mẫu này, pháp luật của Malaysia và Singapore qui định, mọi công ty phải đăng ký hợp đồng thành lập công ty như một điều kiện thiết yêù cho việc ra đời của mình, trong khi đó không phải công ty nào cũng đăng ký điều lệ của mình, và các nội dung chủ yêù của hợp đồng thành lập công ty ở các nước này bao gồm:
- Tên công ty;
- Mục tiêu của công ty;
- Sô' lượng cổ phần hay phần lợi và giá trị của mỗi cổ phần hay phần lợi;
- Cách thức phân chia vô'n thành các cổ phần hay phần lợi;
- Chê'độ trách nhiệm của các thành viên;
- Tên, địa chỉ và nghề nghiệp của những người góp vôh;
- Cam kết của các thành viên về việc theo đuổi các mục tiêu của công ty và số vốn đóng góp hay cổ phần sẽ mua .
Khuynh hướng thứ hai chỉ qui định chi tiết về điều lệ của công ty. Chẳng hạn, pháp luật của Pháp qui định, điều lệ phải ghi rõ ít nhất là các điều khoản như hình thức công ty, thời hạn hoạt động, tên gọi, trụ sở, mục đích, sỗ' vôh, sự phân chia các phần góp vôh giữa các thành viên và tính chất của các phần vôh góp .
Pháp luật Malaysia và Singapore quan niệm rằng, điều lệ công ty là các qui tắc nội bộ của công ty và phụ thuộc vào bản hợp đồng thành lập công ty; và cả hai tạo ra quan hệ họp đồng giữa công ty với mỗi thành viên, và một thành viên này vói mỗi thành viên khác . So sánh các khuynh hướng và các qui định trên, có thể thấy pháp luật Việt Nam đã hợp nhất bản hợp đồng thành lập công ty và bản điều lệ công ty.
Nội dung chủ yếu của điểu lệ công ty, theo Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm:
"1. Tên, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.
2. Ngành, nghề kinh doanh.
3. Vốn điều lệ; cách thức tăng và giảm vốn điều lệ.
4. Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của các thành viên hợp danh đôì với công ty hợp danh; của chủ sở hữu công ty, thành viên đổỉ với công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần.
5. Phần vôh góp và giá trị vôh góp của mỗi thành viên đôì với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; sô' cổ phần của cổ đông sáng lập, loại cổ phần, mệnh giá cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại đôì với- công ty cổ phần.
6. Quyêh và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty họp danh; của cổ đông đối với công ty cổ phần.
7. Cơ câu tổ chức quản lý.
8. Người đại diện theo pháp luật đổi với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
9. Thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh châ'p nội bộ.
10. Căn cứ và phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho người quản lý và thành viên’Ban kiểm sỏát hoặc Kiểm soát viên.
11. Những trường hợp thành viên có thể yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp đôì với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần đối với công ty cổ phần.
12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuê'và xử lý lỗ trong kinh doanh.
1-3. Các trường họp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty.
14. Thê’ thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.
15. Họ, tên, chữ ký của các thành viên hợp danh đốì với công ty hợp danh; của người đại diện theo pháp luật, của chủ sở hữu công ty, của các thành viên hoặc người đại diện theo uỷ quyển đổì vói công ty trách nhiệm hữu hạn; của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập, người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập đôi vói công ty cổ phần.
16. Các nội dung khác do thành viên, cổ đông thoả thuận nhưng không được trái với quy định của pháp luật".
Như vậy có thê’ nói, điều lệ của công ty bị đòi hỏi quá chi tiết, phức tạp, và ít dành chỗ cho các thỏa thuận sau này. Pháp luật sẽ bị giảm vai trò giải thích cho ý chí của thành viên và các thành viên với các đòi hỏi đó. Điều lệ công ty có thể được thay đổi trong quá trình hoạt động của công ty theo những thể thức nhất định được qui định điều lệ và pháp luật.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê