- 1. Một số các quy định trong thương mại quốc tế về thủ tục chống phá giá
- 1.1. Quy định của hiệp định thương mại tự do (FTA)
- 1.2. Hiệp định GATT/WTO
- 2. Thực trạng áp dụng biện pháp chống phá giá
- 3. Ví dụ về tranh chấp liên quan đến bán phá giá
- 4. Một số quan điểm nhìn nhận về biện pháp chống bán phá giá so với các quy tắc cạnh tranh khác.
1. Một số các quy định trong thương mại quốc tế về thủ tục chống phá giá
1.1. Quy định của hiệp định thương mại tự do (FTA)
Thông thường các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) được các nước EFTA ký kết không có các quy tắc chống phá giá của riêng họ mà chỉ dẫn chiếu tới những điều khoản có liên quan trong Hiệp định GATT. Văn bản thường quy định rằng bên chịu thiệt hại “có thể áp dụng những biện pháp phù hợp với Hiệp định về việc Bổ sung Điều VI của GATT, với những điều kiện và phù hợp với thủ tục quy định trong FTA”. Phần sau của văn bản này liên quan tới các hành động chống phá giá giữa từng nước EFTA và các nước đối tác tương ứng, các bước thủ tục đề ra trong FTA và uỷ ban Hỗn hợp với các nhiệm vụ cụ thể. Trong một số Hiệp định, trong thời hạn là 30 ngày kể từ ngày thông báo cho Uỷ ban Hỗn hợp thì không được tiến hành một hành động đơn phương nào trừ những hoàn cảnh đặc biệt cần hành động ngay lập tức.
Hiệp định Khu vực Kinh té châu Âu (EEA) là một ngoại trừ của quy tắc này. Thực vậy, triển vọng về việc tránh các hành động chống phá giá trong tương lai đối với một vài nước EFTA là một trong những động lực chính để tham gia đàm phán với Cộng đồng châu Âu (EC), và kết quả là sự ra đời của Hiệp định EEA. Sau những buổi thảo luận kéo dài, mọi người đều nhất trí thừa nhận các thủ tục chống phá giá, chỉ trừ ở một ít lĩnh vực chưa đạt được sự thống nhất về những quy tắc quan trọng.
Ở tất cả các ngành kinh tế khác, những thực tiễn xuất khẩu không công bằng có thể được giải quyết bằng các phương tiện khác, đặc biệt là bằng những quy tắc cạnh tranh.
1.2. Hiệp định GATT/WTO
Bản ghi nhớ giải quyết tranh chấp của WTO 1994 cũng áp dụng cả trong lĩnh vực chống phá giá. Đầu tiên, các thành viên phải tham khảo lẫn nhau, nếu một thành viên cho rằng những lợi ích hợp pháp của họ đã quy định trong Hiệp định bị vô hiệu hoá hay bị giảm đi do hành động của một thành viên khác. Chỉ khi nào những cuộc tham khảo này không giải quyết được vấn đề và sau đó nước nhập khẩu triển khai hành động cuối cùng là áp dụng thuế chống phá giá hoặc là chấp nhận một cam kết giá cả, Hội đồng Giải quyết Tranh chấp của WTO mối tham gia.
Theo Hiệp định Bổ sung, một Uỷ ban Chống Phả giá của WTO được thành lập gồm đại diện của tất cả các nước thành viên.
Nói chung, ủy ban này có chức năng như một diễn đàn tham vấn đối với mỗi vấn đề liên quan tới quả trình thực hiện Hiệp định hoặc liên quan đến việc triển khai các mục tiêu của Hiệp định.
Cụ thể hơn, các nước thành viên phải thông báo cho ủy ban các thủ tục của nước mình để thi hành Hiệp định và cơ quan có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ này. Hơn nữa, mỗi thành viên cũng sẽ phải thông báo cho uỷ ban về mỗi hành động chống phá giá của nước mình, ban đầu hoặc cuối cùng và cứ 6 tháng nộp một bản báo cáo về các hoạt động chống phá giá đã tiến hành 6 tháng trước.
2. Thực trạng áp dụng biện pháp chống phá giá
Mặc dù có những nghi ngờ về tính hợp lý về kinh tế nhưng các biện pháp chống phá giá thường xuyên được ảp dụng. Trong những năm từ 1987 đến 1997 đã có gần 2.200 cuộc điều tra được báo cáo với GATT/WTO.
Người ta thường xuyên viện dẫn rằng phương tiện này chủ yếu phục vụ lợi ích của những nền kinh tế phát triển lớn trên thế giới. Khoảng 10 năm trước năm 1987, Mỹ là nước hay sử dụng phương tiện này nhất, và điều thú vị là Mỹ cũng lại là mục tiêu thường xuyên nhất. Gần đây, tình hình đã bắt đầu thay đối. Theo một nghiên cứu gần đây, số các quốc gia tiến hành điều tra về chống phá giá tăng từ 7 vụ năm 1987 lên 22 vụ năm 1997. Năm 1996, 2/3 số vụ điều tra được tiến hành ở các nước đang phát triển.
Do đó, có thể kết luận rằng việc sử dụng phương tiện này đã trở nên rộng khắp toàn cầu. Nhìn qua danh sách những nước sử dụng thường xuyên nhất phương tiện này, vẫn là các nền kinh tế lớn. Qua nghiên cứu này có thể kết luận rằng các hiệp định hội nhập khu vực không làm giảm bớt các biện pháp chống phá giá giữa các thành viên. Gần một nửa số các vụ điều tra được tiến hành để chống lại Mỹ trong quãng thời gian 10 năm và gần một nửa phải áp dụng biện pháp chống phá giá, khởi đầu là Mêhicô và Canada vốn là các đối tác của Mỹ trong Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA).
3. Ví dụ về tranh chấp liên quan đến bán phá giá
Bản ghi nhớ giải quyết tranh chấp của WTO 1994 cũng áp dụng cả trong lĩnh vực chống phá giá. Đầu tiên, các thành viên phải tham khảo lẫn nhau, nếu một thành viên cho rằng những lợi ích hợp pháp của họ đã quy định trong Hiệp định bị vô hiệu hoá hay bị giảm đi do hành động của một thành viên khác. Chỉ khi nào những cuộc tham khảo này không giải quyết được vấn đề và sau đó nước nhập khẩu triển khai hành động cuối cùng là áp dụng thuế chống phá giá hoặc là chấp nhận một cam kết giá cả, Hội đồng Giải quyết Tranh chấp của WTO mối tham gia.
Ví dụ 1: Mỹ đã bị Hàn Quốc kiện về việc áp dụng thuế chống phá giá ngày 10/7/1997 do Mỹ đánh thuế chống phá giá khi nhập khẩu TV màu từ Hàn Quốc. Hàn Quốc đã đấu tranh rằng trong 12 năm gần đây Mỹ duy
dù không có sự phá giá và đỉnh chỉ các hóạt động xuất khẩu của Hàn VI.1 và VI.6 (a) của Hiệp định GATT năm 1994, và Điều 1,2, 3.1, 3.2, 3.6, 4.1, 5.4, 5.8, 5.10, 11.1 và 11.2 của Hiệp định Chống Phá giá. Ngày 6/11 /1997 Hàn Quốc đã yêu cầu thành lập Ban điều tra. Ngày 5/1/1998 Hàn Quốc đã thông báo cho Hội đồng Giải quyếtTranh chấp (DSB) rằng họ xin rút yêu cầu nhưng vẫn bảo lưu quyền nêu lại yêu cầu này. Tại hội nghị của Ban điều tra ngày 22/9/1998, Hàn Quốc tuyên bố rằng họ hoàn toàn rút bỏ yêu cầu này bởi vì lúc này việc đánh thuế chống phá giá đã được bãi bỏ.
Ví dụ 2: Hoa Kỳ bị Mexico khởi kiện về việc bán phá giá đối với sản phẩm cà chua tươi và cà chua đông lạnh nhập khẩu từ Mexico
| Nguyên đơn | Mexico |
| Bị đơn:
Các Các bên thứ ba: | Hoa Kỳ
Australia, Braxin, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Việt Nam, Colombia |
| Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong yêu cầu tham vấn) | Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Điều 3, 5, 6, 7.1, 2; GATT 1994: Điều VI, X |
| Ngày nhận được yêu cầu tham vấn | 01/07/1996 |
Nội dung: Ngày 01/07/1996, Mexico yêu cầu tham vấn với Hoa Kỳ liên quan đến cuộc điều tra chống bán phá giá mà Hoa Kỳ tiến hành đối với sản phẩm cà chua tươi và cà chua đông lạnh (fresh and chilled tomatoes) nhập khẩu từ Mexico theo Điều 17.3 của Hiệp định ADA.
Mexico cáo buộc Hoa Kỳ đã vi phạm các Điều VI và X của Hiệp định GATT 1994 cũng như các Điều 2, 3, 5, 6 và 7.1 của Hiệp định ADA. Mexico cho rằng vụ việc này cần được xem như một trường hợp khẩn cấp và có thể áp dụng các thủ tục quy định tại Điều 4.8 và 4.9 của DSU.
Tuy nhiên, theo báo cáo của DOC sau đó, vụ kiện đã được giải quyết
Ví dụ 3: EU bị Trung quốc kiện với mặt hàng giày da nhập khẩu từ Trung Quốc
| Nguyên đơn: | Trung Quốc |
| Bị đơn: | EU
|
| Các Các bên thứ ba: | Australia, Braxin, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Việt Nam, Colombia |
| Các hiệp định liên quan (được đưa ra trong yêu cầu tham vấn) | Hiệp định Thành lập WTO: Điều XVI:4 Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Điều 1, 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5, 5.3, 6.1.1, 6.1.2,6.2, 6.4, 6.5, 6.5.1, 6.5.2, 6.8, 6.9, 6.10,6.10.2, 9.1, 9.2, 9.3, 9.4, 11.3, 12.2.2, 2.1,17.6, 18.1, 18.4, 2.2.2, 2.4, 2.6 GATT 1994: Điều XVI:4, X:3(a), I, VI:1 |
| Ngày nhận được yêu cầu tham vấn | 04/02/2010 |
Nội dung tóm tắt:
Ngày 04/02/2010, Trung Quốc yêu cầu tham vấn với EU liên quan đến các biện pháp chống bán phá giá mà EU áp dụng đối với giày da (leather footwear) nhập khẩu từ Trung Quốc.
Theo Trung Quốc, Quy định Cơ bản về Chống bán phá giá của EC quy định trong trường hợp hàng nhập khẩu từ các nước có nền kinh tế phi thị trường thì thuế chống bán phá giá sẽ được xác định chung cho nước đó chứ không tính riêng cho từng nhà nhập khẩu. Trong khi đó, theo quy định của WTO thì biên độ phá giá và thuế chống bán phá giá phải được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu được biết đến chứ không phải chung cho cả nước xuất khẩu bị điều tra. Cũng theo Quy định Cơ bản của EC, các nhà xuất khẩu muốn được hưởng mức thuế suất riêng phải đáp ứng đầy đủ các Tiêu chuẩn về Nền kinh tế thị trường và các Tiêu chuẩn để được đối xử riêng mà theo Trung Quốc thì các tiêu chuẩn này là không hợp lý, thiếu khách quan và vi phạm Nguyên tắc Tối Huệ Quốc.
Do đó, Trung Quốc cáo buộc EU vi phạm các nghĩa vụ của EU này theo Điều XVI:4 của Hiệp định WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc, các Điều I:1, VI:1 và X:3(a) của GATT 1994 và rất nhiều điều khoản khác của Hiệp định ADA.
Giai đoạn Hội thẩm
Tham vấn không thành công, ngày 08/04/2010, Trung Quốc yêu cầu WTO thành lập Ban Hội thẩm giải quyết tranh chấp vụ việc này. Tại cuộc họp ngày 20/04/2010, DSB đã trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Tuy nhiên, tại cuộc họp ngày 18/05/2010, Ban Hội thẩm đã được thành lập.
Australia, Braxin, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Việt Nam và sau đó là Colombia đã yêu cầu được tham gia vào vụ kiện với tư cách các bên thứ ba.
Nguồn: theo WTO
4. Một số quan điểm nhìn nhận về biện pháp chống bán phá giá so với các quy tắc cạnh tranh khác.
Các nhà bình luận đã chia thành 2 phe cho rằng các biện pháp chống phá giá là cần thiết và phe kia là có hại Những người ủng hộ thì cho rằng việc bán phá giá chính là thương mại không công bằng. Việc này có thể gây ra những thiệt hại vô cùng lớn cho nền kinh tế của nước nhập khẩu. Do đó cần chống lại những hoạt động này. Ngoài ra, họ cũng chỉ ra rằng các thủ tục chống phá giá gần đây đã được hoàn thiện để bảo vệ những lợi ích hợp pháp của các công ty bị buộc tội có những hành vi này. Hơn nữa, nếu thiếu các phương tiện này thì các nhà ban hành chính sách trong nước có thể ít thiên về việc hạ thấp thuế quan nhập khẩu và mở cửa các thị trường của họ cho dù có những phương tiện chính sách thương mại khác phục vụ mục đích này.
Một số khác lại lập luận rằng quan niệm này là bất hợp lý về kinh tế, tạo ra quá nhiều quyền tự do cho các nhà chức trách của các nước tiến hành điều tra và tạo điều kiện cho những người bảo hộ lạm dụng dưới vỏ bọc không gian lận. Họ biện hộ cho những quy tắc cạnh tranh quốc tế thay cho các biện pháp chống phá giá và chỉ ra những nơi nào áp dụng những quy tắc này ví dụ như ở liên minh thuế quan hoặc trong những thoả thuận thương mại tự do với các quy tắc cạnh tranh chung như các cơ chế giám sát (như EEA), thì những quy tắc chống phá giá là không cần thiết.
Ý kiến dùng quy tắc cạnh tranh để truy nã các hoạt động phá giá dựa trên việc nhận thấy các biện pháp chống phá giá không triệt để loại bỏ được nguyên nhân cơ bản của vấn đề. Theo những ngựời đề xuất ý kiến này thì việc phá giá chỉ xảy ra trong thực tế nếu các nhà xuất khẩu tiến hành hoạt động xuất khẩu ở một thị trường nội địa được bảo hộ. Điều này cho phép họ tài trợ việc cắt giảm giá ở những thị trường khác. Những thị trường được bảo hộ có thể ra đời từ những hạn chế nhập khẩu hoặc là do thiếu các biện pháp cạnh tranh hữu hiệu, cả hai yếu tố đó đều tạo điều kiện cho việc tậo nên những dự trữ cần thiết để tài trợ cho hoạt động phá giá ở nước ngoài. Vì vậy, những nguyên nhân thật sự của vấn đề không nằm ở thị trường xảy ra phá giá mà ở thị trường của nhà xuất khẩu và đó mới là nơi chúng cần phải được giải quyết.
Một phương tiện như vậy là việc đưa điều khoản lợi ích công vào luật chống phá giá quốc gia mà điều này sẽ đòi hỏi nhà chức trách của quốc gia đó phải xem xét các tác động của thuế chống phá giá đối với nền kinh tế trên diện rộng, hoặc đối với các ngành khác trong nền kinh tế hơn là các ngành đã đệ đơn điều tra.