1. Khái quát chung

Việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng thông qua cơ quan THADS được tiến hành theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Về  cơ bản, trình tự thủ tục thi hành án tín dụng ngân hàng tuân thủ các quy định của pháp luật THADS về hành một vụ việc nói chung và được quy định tại Luật THADS, sửa đổi bổ sung 2014 và Nghị định 62/NĐ-CP của chính phủ về việc hướng dẫn Luật THADS. Trong đó gồm những nội dung quan trọng như sau:

2. Ra quyết định thi hành án

Thủ trưởng cơ quan THADS là người có quyền ban hành quyết định thi hành án. Quyết định thi hành án dân sự gồm hai loại là quyết định thi hành án chủ động và quyết định thi hành án theo yêu cầu. Quyết định thi hành án chủ động dựa trên phần bản án, quyết định của toà án bao gồm: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nu ớc, tịch thu tiêu hủy v t chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thu c di n sung quỹ Nhà nước; quyết định áp dụng bi n pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định của tòa án giải quyết phá sản. (Điều 36, Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014). Ngoài các phần bản án, quyết định nêu trên, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án của đương sự trong thời hi u pháp lu t quy định.
Đối với án tín dụng ngân hàng, cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định khi nhận được đơn yêu cầu thi hành án của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác về phần nghĩa vụ trả nợ của khách hàng trong những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Quyết định thi hành án chính là căn cứ đầu tiên của việc thi hành án. Cơ quan THADS ra quyết định thi hành án trên cơ sở đơn yêu cầu thi hành án của các tổ chức tín dụng khi đáp ứng các điều ki n pháp  lu t quy định về việc yêu cầu thi hành án, như quy định về chủ thể yêu cầu, thời hiệu yêu cầu, nội dung đơn yêu cầu, tài liệu kèm theo...Trong đó, quan trọng nhất là phạm vi yêu cầu thi hành án không vượt quá phạm vi về nghĩa vụ thanh toán nợ trong bản án quyết, định đã có hiệu lực pháp luật.

3. Thông báo thi hành án

Thông báo về thi hành án là việc chuyển tải thông tin về thi hành án đến một đối tượng nhất định, do người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Theo đó, quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó. Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Các hình hình thức thông báo thi hành án gồm: Thông báo trực tiếp hoạ c qua cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp lu t; niêm yết công khai; thông báo trên các phương ti n thông tin đại chúng. Trong đó:
+ Thông báo trực tiếp cho cá nhân là việc giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ vào biên bản giao, việc giao thông báo phải lập thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ. Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự.
+ Niêm yết công khai: Việc niêm yết chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Các địa điểm niêm yết gồm có trụ sở cơ quan THADS, UBND cấp xã, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo.
+ Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Hình thức thông báo này chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu. Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp. Trường hợp xác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

4. Xác minh điều kiện thi hành án

Xác minh điều kiện thi hành án là một bước quan trọng trong công tác thi hành án dân sự nói chung và thi hành án tín dụng ngân hàng nói riêng. Mục đích của việc xác minh điều kiện thi hành án là việc tiếp cận các thông tin về người phải thi hành án, để phân loai khả năng thi hành của vụ việc trên thực tế, từ đó chấp hành viên đưa ra hướng giải quyết phù hợp.Với những vụ việc tín dụng ngân hàng, đặc biệt là án tín dụng có tài sản đảm bảo, đòi hỏi phải xác minh kỹ tình trạng của tài sản đảm bảo, những người phụ thuộc, liên quan tới tài sản đó, ngoài ra phải xác minh những yếu tố khác như nhân thân, gia đình, thu nhập và những tài sản khác của người phải thi hành án. Đối với tài sản phải đa ng ký quyền sở hữu, sử dụng ho c đa ng ký giao dịch bảo đảm thì Chấp hành viên phải xác minh tại cơ quan có chức na ng quản lý, đa ng ký tài sản, giao dịch bảo đảm đó. Việc xác minh điều kiện thi hành án không chỉ diễn ra một lần mà là trong suốt quá trình thi hành án cho đến khi kết thúc vụ việc.
Luật THADS quy định " Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay". Khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án. Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin cho chấp hành viên. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp  từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Trường hợp  không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Để đảm bảo hiệu quả công tác xác minh thi hành án, Luật THADS đã quy định chấp hành viên được quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp cần thiết; được trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản, xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi hành án.
Công tác xác minh góp phần quan trọng cho việc phân loại án "chưa có điều kiện thi hành án". Theo đó, việc thi hành án được coi là chưa có điều kiện thi hành án nếu sau khi xác minh nếu thuộc những trường hợp sau:
+ Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án.
+ Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác.
+ Chưa xác minh được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
Đối với vụ việc thi hành án thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng thì việc chưa có điều kiện phần lớn thuộc trường hợp người phải thi hành án không có thu nhập, không có tài sản. Đối với những khoản nợ có tài sản đảm bảo thì sau khi xử lý xong tài sản đảm bảo, nếu khoản tiền thu được từ việc bán tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ mà người phải thi hành án đã không còn tài sản hoặc không có thu nhập thì phần nghĩa vụ còn lại chủ yếu được đưa sang chưa có điều kiện. Chấp hành viên đảm bảo tiến hành xác minh thi hành án kịp thời, đầy đủ. Trường hợp nguời phải thi hành án chưa có điều ki n thi hành án thì cơ quan THADS phải ra quyết định về vi c chưa có điều ki n thi hành và đa  ng tải công khai trên Trang thông tin  đi n tử về THADS và gửi cho UBND cấp xã, phường nơi xác minh để niêm yết. Nếu nguời phải thi hành án có điều kiện thi hành thì Chấp hành viên tiếp tục thực hiện các biện pháp tổ chức thi hành án theo quy định pháp luật.

5. Áp dụng các biện pháp đảm bảo thi hành án dân sự

Biện pháp bảo đảm thi hành án là biện pháp pháp lý được Chấp hành viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc thi hành án, đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án. Biện pháp bảo đảm thi hành có vai trò hỗ trợ cho việc thi hành các bản án, quyết định nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Tùy từng trường hợp cụ thể mà biện pháp bảo đảm thi hành án tương ứng sẽ được Chấp hành viên áp dụng để tổ chức việc thi hành án.
Các biện pháp bảo đảm thi hành án pháp luật quy định cho Chấp hành viên được áp dụng là: Phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản. Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án trong các vụ việc về thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng ngân hàng là vô cùng cần quan trọng do các khoản phải thi hành thường có giá trị lớn, người phải thi hành án sẽ có tâm lý trốn tránh nghĩa vụ hoặc tẩu tán tài sản vì không muốn thanh toán nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng.

6. Cưỡng chế thi hành án dân sự

Cưỡng chế trong thi hành án dân sự là biện pháp cuối cùng mà chấp hành viên buộc phải áp dụng sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành mà người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ của mình hoặc sau thời gian tự nguyện thi hành các bên đương sự không thỏa thuận được về nội dung thi hành án. Đối với loại án tín dụng ngân hàng, người phải thi hành án thường là những tổ chức, các nhân không còn khả năng thanh toán cũng như trốn tránh thực hiện nghĩa vụ, do đó cưỡng chế thi hành án là phương án thường được áp dụng trong việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng.
Căn cứ của việc quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được thể hiện thông qua Điều 106 Hiến pháp 2013: “Bản án, quyết định của tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án trong các quyết định bản án đã có hiệu lực pháp luật, cụ thể trong trường hợp này chính là quyền lợi của các tổ chức tín dụng. Mặc dù cưỡng chế thi hành án không được Nhà nước khuyến khích, nhưng khi các bên đương sự không thỏa thuận được cũng như việc giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành không thành công thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là cần thiết để vừa giải quyết dứt điểm vụ việc, vừa có tác dụng giáo dục, răn đe những đối tượng phải thi hành án khác có điều kiện thi hành mà cố tình trốn tránh nghĩa vụ thi hành.
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của nhà nước, nhằm buộc người phải thi hành án dân sự thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án. Cưỡng chế thi hành án dân sự do chấp hành viên cơ quan THADS quyết định áp dụng theo thẩm quyền trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, đã được thông báo hợp lệ, đã hết thời gian tự nguyện thi hành án mà không tự nguyện thi hành hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án dân sự tẩu tán, hủy hoại tài sản.Theo đó:
+ Căn cứ cưỡng chế: Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành; Quyết định thi hành án; Quyết định cưỡng chế thi hành án.
+ Điều kiện cưỡng chế: Thứ nhất, người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai, người phải THA có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành. Thứ ba, đã hết thời gian tự nguyện mà người phải thi hành án không tự nguyện hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
+ Nguyên tắc cưỡng chế: Chủ thể có thẩm quyền chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế pháp luật quy định; không được áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thời gian và trường hợp pháp luật cấm; việc cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác.
Khoản 1, Điều 46, Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 quy định: “Hết thời gian quy định tại khoản 1, điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế”. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự gồm có:
+ Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
+ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
+ Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
+ Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
+ Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
+ Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Ngoài những quy định chung về việc cưỡng chế thi hành án, pháp luật THADS còn quy định cụ thể về những biện pháp cưỡng chế kê biên đối với một số tài sản đặc thù có thể kể đến: Kê biên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ; kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm; kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp; kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; kê biên vốn góp; kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói; kê biên tài sản gắn liền với đất; kê biên tài sản là nhà ở; kê biên tài sản là phương tiện giao thông; kê biên tài sản là hoa lợi.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án là phương án cuối cùng, sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành mà người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ của mình và hai bên đương sự không thoả thuận được về việc thi hành án. Trên thực tế biện pháp cưỡng chế thường được áp dụng nhiều trong thi hành án tín dụng ngân hàng là biện pháp “kê biên, xử lý tài sản”, đặc biệt là đối với những khoản nợ có tài sản đảm bảo. Phần lớn trong những vụ án tín dụng ngân hàng, người phải thi hành án đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do vậy việc tự nguyện thi hành trong thời gian luật định là rất ít. Nếu hết thời gian tự nguyện thi hành, các bên không thỏa thuận được về việc thi hành án, chấp hành viên sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế mà cụ thể là kê biên tài sản đảm bảo thường được áp dụng để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng .
Trường hợp một tài sản đảm bảo cho nhiều khoản vay tại các tổ chức tín dụng khác nhau, thì theo quy định tại khoản 3, Điều 296, Bộ luật Dân sự 2015 thì: " Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác". Cơ quan THADS tiến hành kê biên xử lý tài sản đảm bảo của khoản vay tại ngân hàng đã có đơn yêu cầu thi hành án và thông báo cho các tổ chức tín dụng còn lại.

7. Thẩm định giá và bán đấu giá tài sản kê biên

+ Thẩm định giá tài sản: Định giá tài sản là một khâu quan trọng quá trình xử lý tài sản để thi hành án. Việc định giá tài sản kê biên nhằm mục đích xác định giá khởi điểm để bán đấu giá, để đối trừ với nghĩa vụ phải thi hành án trong trường hợp người được thi hành án nhận tài sản để thi hành án. Sau khi kê biên tài sản, nếu đương sự thỏa thuận được về giá, chấp hành viên sẽ lấy mức giá mà đương sự đã thỏa thuận để làm cơ sở bán đấu giá. Trường hợp đương sự không thỏa thuận được về giá thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp được quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 98 Luật THADS sửa đổi bổ sung 2014. Đối với những trường hợp một trong hai bên đương sự không đồng ý với giá đã định của tổ chức thẩm định giá được lựa chọn thì có thể yêu cầu định giá lại tài sản trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản (yêu cầu định giá lại tài sản kê biên của đương sự chỉ đu ợc thực hi n 01 lần và chỉ được chấp nh n khi người yêu cầu có đơn trong thời hạn 05 ngày làm vi c, kể từ ngày nh n được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản). Việc định giá lại tài sản cũng được áp dụng khi phát hiện có sai phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả định giá.
Sau khi có kết quả thẩm định giá, chấp hành viên thông báo cho các đương sự. Đến giai đoạn này, các bên vẫn có quyền được thoả thuận về thi hành án, cụ thể bên phải thi hành án vẫn có thể nộp tiền để thanh toán nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng và việc bán đấu giá sẽ không diễn ra. Hơn nữa, dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của các bên đương sự, pháp luật quy định bên được thi hành án mà cụ thể trong trường hợp này là các tổ chức tín dụng, ngân hàng có thể nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án.
+ Bán đấu giá tài sản: Có hai phương thức bán tài sản kê biên là bán không qua thủ tục đấu giá và bán đấu giá, cụ thể:
Trường hợp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng: Chấp hành viên tiến hành bán không qua thủ tục đấu giá.
Trường  hợp  tài  sản  là  động  sản  có  giá  trị  từ  2.000.000  đồng  đến 10.000.000 đồng hoặc tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản: Chấp hành viên tiến hàng bán đấu giá tài sản.
Trường hợp tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản: tổ chức bán đấu giá thực hiện việc bán đấu giá tài sản.
Đối với những loại án liên quan đến việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng thì tài sản kê biên thường có giá trị lớn nên phương thức xử lý tài sản sau thẩm định giá là bán đấu giá thông qua các tổ chức bán đấu giá.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê