1. Khái niệm tài sản đảm bảo là gì ?
Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm, được tồn tại dưới 3 hình thức mà khách hàng có thể dùng để vay thế chấp là vật hiện hữu, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản:
Tài sản đảm bảo là quyền tài sản như quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận bảo hiểm, quyền góp vốn kinh doanh, quyền khai thác tài nguyên, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố, các quyền tài sản khác.
Tài sản đảm bảo là các giấy tờ có giá như: Trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, tín phiếu và các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền.
Tài sản đảm bảo là vật như phương tiện giao thông, kim khí đá quý, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa.
Tài sản bảo đảm cũng chính là tài sản nói chung theo quy định của pháp luật, gồm 4 loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai1. Trong pháp luật kế toán, bất động sản và động sản có thể được phân chia thành tài sản cố định và tài sản lưu động. Tài sản cố định gồm tài sản cố định hữu hình và vô hình. Tài sản cố định hữu hình có thời hạn sử dụng trên 1 năm và nguyên giá tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên
2.Điều kiện để trở thành tài sản bảo đảm
Điều 295. Tài sản bảo đảm
1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
3. Một số yêu cầu và điều kiện đối với tài sản bảo đảm
- Điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với tài sản bảo đảm là “phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền số hữu”. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật. Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, chi phối tài sản. Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưỏng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
Ví dụ cụ thể
Một ví dụ về trường hợp tài sản thế chấp tuy vẫn đứng tên sở hữu nhưng không thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp: Ngày 29/6/2007, Công ty trách nhiệm hữu hạn H. được UBND tỉnh S. cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 73,4 m2 đất tại khóm 1, phường 7, thành phố S. Ngày 14/02/2009, Công ty H đã bán cho vợ chồng ông Hứa Long A và bà Quách Lệ T một căn nhà gắn liền với thửa đất trên với giá 450 triệu đồng. Hai bên đã thanh toán đủ và giao nhận nhà, nhưng chưa làm thủ tục sang tên trước bạ. Ngày 16/8/2011, Công ty H đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng thương mại cổ phần P - Chi nhánh S, có công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp cùng với 2 tài sản khác để vay 2,1 tỷ đồng, nhưng vợ chồng ông A và bà T không biết về việc thế chấp. Ngày 13/9/2013, Toà án nhân dân thành phố S, đã tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu, vì tài sản thế chấp tuy vẫn đứng tên sở hữu nhưng thực tế đã không còn thuộc sở hữu của Công ty H. Trường hợp này, muôn nhận thế chấp hợp pháp thì người đứng tên sở hữu, dù không còn sở hữu nhưng vẫn phải ký hợp đồng thế chấp, đồng thời phải có sự đồng ý của cả người đang sở hữu thực tế, không có trên giấy chứng nhận quyền sở hữu.
Tài sản thuộc sở hữu của chủ thể quyền bề mặt cũng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập từ hoạt động khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của ngưòi khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác (nhưng không được trái với quy định của Bộ luật Dân sự, pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của pháp luật có hên quan);
Trường hợp tài sản gắn liền với đất thì áp dụng quy định về mô tả tài sản quy định đối với bất động sản; vật có vật phụ, vật đồng bộ, vật đặc định; giấy tờ có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi; dự án đầu tư, tài sản thuộc dự án đầu tư; hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng. Hoa lợi, lợi tức hoặc tài sản khác có được từ việc khai thác, sử dụng tài sản là đối tượng của quyền hưỏng dụng được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
Điều kiện thứ hai là chủ sở hữu có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch bảo đảm theo quy định về ủy quyền của pháp luật;
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng, mà pháp luật không bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì một trong hai vợ chồng có thể được quyền thực hiện giao dịch bảo đảm không cần có văn bản ủy quyền của ngưòi còn lại.
Điều kiện thứ ba là tài sản bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:
Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm. Tài sản hình thành trong tương lai gồm các động sản và bất động sản, trừ quyền sử dụng đất;
Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu;
Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ;
Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định;
Điều kiện thứ tư là tài sản đang cho thuê, cho mượn cũng có thể được dùng để thế chấp theo các quy định sau đây:
Bên thế chấp phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết;
Việc tài sản thế chấp đang được cho thuê, cho mượn bị xử lý theo quy định tại Điều 299 về “Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm” của Bộ luật Dân sự không làm chấm dứt hợp đồng thuê, hợp đồng mượn; bên thuê, bên mượn được tiếp tục thuê, mượn cho đến khi hết thời hạn theo hợp đồng;.
Trường hợp biện pháp thế chấp đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba mà bên thê chấp dùng tài sản thế chấp để cho thuê, cho mượn nhưng không thông báo cho bên nhận thế chấp biết thì hợp đồng thuê, hợp đồng mượn chấm dứt tại thời điểm xử lý tài sản thế chấp. Quyền, nghĩa vụ giữa bên thế chấp và bên thuê, bên mượn được giải quyết theo thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan;
Điều kiện là tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được, tức là phải được xác định một cách rõ ràng, cụ thể, có cơ sở theo các quy định sau đây:
Việc mô tả tài sản bảo đảm do bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật về mô tả tài sản là vật có vật phụ, vật đồng bộ, vật đặc định; giấy tò có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi; dự án đầu tư, tài sản thuộc dự án đầu tư; hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng;
Trường hợp tài sản bảo đảm là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký thì thông tin được mô tả theo thỏa thuận phải phù hợp với thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ khác xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản theo quy định của pháp luật;
- Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền tài sản thì thông tin được mô tả theo thỏa thuận phải thể hiện được tên, căn cứ pháp lý phát sinh quyền tài sản;
- Trường hợp tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là vật có vật phụ, vật đồng bộ hoặc vật đặc định thì việc mô tả phải thể hiện được đặc điểm để xác định vật này theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Riêng đối với tài sản hình thành trong tương lai thì nhiều khi không xác định được một cách rõ ràng, hay nói cách khác chỉ là tương đốì;
Điều kiện thứ sáu là giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm. Việc xác định này cũng chỉ là tương đối, đến khi xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ thì có thể thay đổi. Điều này cũng phù hợp với quy định, một tài sản bảo đảm có thể sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ của một người hoặc nhiều người nhận bảo đảm.
Cũng như đối với tài sản đặt cọc, ký cược, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, tài sản ký quỹ là “tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá” là không chính xác, vì cùng một lúc hoàn toàn có thể ký quỹ bằng 2 hoặc cả 3 loại tài sản, chứ không phải đã dùng tiền thì phải loại trừ kim khí quý, đá quý hay giấy tò có giá để ký quỹ.
Trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận về việc dùng tài sản đang được bảo hiểm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoặc tài sản đang dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà được bảo hiểm thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, số tiền bồi thường hoặc tài sản thay thế mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm trỏ thành tài sản bảo đảm.
4. Bảng tổng hợp quy định của BLDS về tài sản bảo đảm sử dụng cho các biện pháp bảo đảm
| TT | Biện pháp bảo đảm | Tài sản bảo đảm |
| 1 | Cầm cố tài sản | Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản |
| 2 | Thế chấp tài sản | Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản |
| 3 | Đặt cọc | Tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác |
| 4 | Ký cược | Tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác |
| 5 | Ký quỹ | Tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tò có giá |
| 6 | Bảo lưu quyền số hữu | Vật, tiền, giấy tồ có giá và quyền tài sản |
| 7 | Bảo lãnh | Vật, tiền, giấy tò có giá và quyền tài sản (trường hợp bảo lãnh bằng tài sản) |
| 8 | Tín chấp | Không có tài sản |
| 9 | cầm giữ tài sản | Vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản |
5. Lựa chọn biện pháp bảo đảm
Tự thỏa thuận biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Khi xác lập giao dịch bảo đảm các bên tham gia quan hệ giao dịch bảo đảm có quyền tự lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một quá trình, trong đó mỗi khâu, mỗi giai đoạn của quá trình đàm phán, thực hiện hợp đồng tín dụng có thể phát sinh các tình huống có liên quan đến việc lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
– Trong giai đoạn đàm phán ký kết hợp đồng tín dụng cần tập trung vào các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm, xác định tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, xác định giá trị của tài sản bảo đảm, lựa chọn hình thức thể hiện sự thỏa thuận.
– Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng tín dụng cần tập trung vào các vấn đề thay đổi tài sản và biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, thỏa thuận xử lý tài sản trong trường hợp tài sản bảo đảm bị mất, bị tiêu hủy để bảo đảm duy trì biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật.
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương ứng với từng hợp đồng tín dụng mà dành quyền lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho tổ chức tín dụng và người vay.