1. Tài sản đảm bảo là gì?
Tài sản bảo đảm là tài sản mà một bên trong một giao dịch hoặc hợp đồng sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên khác, thường là bên nhận bảo đảm. Tài sản bảo đảm có thể được sử dụng như một biện pháp đảm bảo cho một nghĩa vụ, đảm bảo rằng nghĩa vụ này sẽ được thực hiện. Ví dụ phổ biến về tài sản bảo đảm bao gồm việc sử dụng tài sản, như một căn nhà hoặc một chiếc xe hơi, như thế chấp khi một người vay một khoản vay từ một ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng. Trong trường hợp này, nếu người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có quyền tịch thu tài sản bảo đảm để đền bù cho số tiền mà họ vay.
Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, các bên trong một giao dịch bảo đảm bao gồm:
+ Bên bảo đảm: Bên này có vai trò đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ dân sự trong trường hợp có vi phạm hoặc thiếu hụt trong hợp đồng hoặc giao dịch. Bên bảo đảm có thể là bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên mua trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu, bên bảo lãnh, hoặc tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở trong trường hợp tín chấp hoặc bên có nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ đối với biện pháp cầm giữ.
+ Bên nhận bảo đảm: Bên này là người hoặc tổ chức nhận sự đảm bảo từ bên bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có thể là bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên có quyền trong ký quỹ, bên bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu, bên nhận bảo lãnh, hoặc tổ chức tín dụng trong trường hợp tín chấp hoặc bên có quyền trong hợp đồng song vụ đối với biện pháp cầm giữ.
2. Điều kiện để trở thành tài sản đảm bảo
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ-CP thì tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, tài sản đảm bào là tài sản hiện tại hoặc tài sản dự kiến hình thành trong tương lai, trừ trường hợp bị cấm mua bán, chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sở hữu tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm hoặc biện pháp đảm bảo, chẳng hạn như tài sản đang thế chấp tại một ngân hàng, sẽ không được bên nào thực hiện mua bán hoặc tặng cho nhau trừ khi đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ đối với ngân hàng, trừ khi có thoả thuận khác. Tài sản hiện có là những tài sản mà đã hoàn thiện quá trình hình thành và mà các bên liên quan đã thiết lập quyền sở hữu hoặc quyền tương tự đối với chúng trước hoặc vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo đảm. Ví dụ: Quyền sở hữu một căn nhà được xem xét là tài sản hiện có nếu chủ sở hữu nhà đó đã nhận được Sổ đỏ và căn nhà đã được hoàn thiện xây dựng. Tài sản hình thành trong tương lai đề cập đến các tài sản chưa được tạo ra hoặc đã được tạo ra, nhưng quyền sở hữu của chúng chưa được xác định tại thời điểm thực hiện bảo đảm, và quyền sở hữu này chỉ được xác định sau khi quá trình bảo đảm đã diễn ra. Ví dụ, một căn hộ trong một dự án căn hộ chưa được hoàn thiện, chưa được bàn giao, và chưa có sổ đỏ cấp cho chủ sở hữu của căn hộ đó là một ví dụ điển hình cho tài sản hình thành trong tương lai.
Thứ hai, tài sản được chuyển nhượng trong hợp đồng mua bán tài sản có quyền sở hữu được bảo lưu. Điều này đồng nghĩa với việc các bên thực hiện việc chuyển nhượng tài sản, nhưng quyền sở hữu của bên bán vẫn được bảo lưu cho đến khi bên mua hoàn thành tất cả các nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp này, bên mua thường sẽ nhận tài sản và có quyền sử dụng nó, nhưng quyền sở hữu tuyệt đối vẫn thuộc về bên bán cho đến khi các điều kiện, thỏa thuận hoặc nghĩa vụ được thực hiện hoàn toàn.
Thứ ba, tài sản là đối tượng của nghĩa vụ phải thực hiện mà bị vi phạm với biện pháp cầm giữ trong hợp đồng song vụ. Thông thường, việc cầm giữ tài sản có thể xảy ra trong các trường hợp sau: Nếu một bên trong hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền, bên kia có thể yêu cầu cầm giữ tài sản cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện hoặc nếu bên một không cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa như đã cam kết trong hợp đồng, bên kia có thể yêu cầu cầm giữ tài sản cho đến khi dịch vụ hoặc hàng hóa được cung cấp đúng theo hợp đồng; trong một số trường hợp, tài sản có thể được cầm giữ như là một biện pháp đảm bảo hoặc bảo đảm đối với nghĩa vụ trong hợp đồng, nếu nghĩa vụ không được thực hiện, tài sản này có thể được sử dụng để bồi thường cho bên bị vi phạm.
Thứ tư, tài sản thuộc sở hữu toàn dân là các tài sản và tài nguyên quan trọng của một quốc gia mà theo quy định của pháp luật, chúng không thuộc sở hữu của cá nhân hay tổ chức cụ thể, mà thuộc sở hữu chung của toàn xã hội hoặc toàn dân trong quốc gia đó. Điều này bao gồm tài nguyên tự nhiên, như nước, đất đai, rừng, biển, khoáng sản, không gian không gian, và các tài sản quốc gia quan trọng khác.
3. Các trường hợp xử lý tài sản đảm bảo
Việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên thực hiện bảo đảm không đúng nghĩa vụ hoặc không thực hiện đúng thỏa thuận phải tuân theo các thỏa thuận giữa các bên và phải tuân theo quy định của Nghị định và pháp luật liên quan. Quy trình xử lý tài sản bảo đảm thường được quy định rõ ràng trong hợp đồng hoặc tài liệu bảo đảm và phải tuân theo quy tắc pháp lý. Việc này đảm bảo rằng quyền và lợi ích của các bên liên quan được bảo vệ và đảm bảo tính công bằng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Nếu có bất kỳ tranh chấp hoặc không rõ ràng về quyền và nghĩa vụ trong việc xử lý tài sản bảo đảm, có thể cần phải áp dụng quy định pháp luật và thực hiện các thủ tục hợp pháp để giải quyết vấn đề.
Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015 thì các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm bao gồm:
Thứ nhất, trong trường hợp bên có nghĩa vụ theo hợp đồng và không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm, và đến hạn thực hiện đã đến, thì bên bảo đảm thường có quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Cách xử lý tài sản bảo đảm thường được quy định rõ ràng trong hợp đồng hoặc các tài liệu bảo đảm, và quy định cụ thể sẽ phụ thuộc vào điều khoản của hợp đồng đó. Bên bảo đảm có thể lựa chọn giữ lại tài sản, bán tài sản để đền bù cho số tiền nợ, tịch thu tài sản, hoặc thực hiện các biện pháp pháp lý khác để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng và tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng.
Thứ hai, trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc quy định của luật, thường có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn đã định. Nếu bên không thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trong khoảng thời gian đã định hoặc trước thời hạn, thì bên bảo đảm có quyền áp dụng các biện pháp hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Điều này có thể bao gồm việc thanh lý tài sản, tịch thu tài sản, hoặc thực hiện các biện pháp pháp lý khác để đảm bảo rằng nghĩa vụ được bảo đảm được thực hiện.
Thứ ba, trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định. Mọi điều khoản về tài sản bảo đảm và cách xử lý thường được đặt ra trong hợp đồng và nếu có, phải tuân theo quy định của luật và quy định pháp lý có liên quan. Các bên có thể thỏa thuận một cách cụ thể về quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản bảo đảm, thời hạn, và cách thức xử lý tài sản trong trường hợp vi phạm. Nếu luật có quy định cụ thể về việc xử lý tài sản bảo đảm, các bên phải tuân theo quy định đó.
Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Một số yêu cầu và điều kiện đối với tài sản bảo đảm. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hê tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Trân trọng!