Mục lục bài viết
- 1. Khả năng thanh khoản
- 2. Vai trò của thanh khoản trong hệ thống và nền kinh tế
- 3. Biểu hiện của mất khả năng thanh khoản
- 3.1 Khái niệm chung
- 3.2 Dấu hiệu cho thấy NH bị mất khả năng thanh khoản
- 3.2.1 Lãi suất huy động vốn của NH tăng giảm thất thường:
- 3.2.2 Lãi suất cho vay trên thị trường liên NH tăng nhanh
- 3.2.3 Giá cổ phiếu của NH được niêm yết trên sàn chứng khoán sụt giảm
- 3.2.4 Bán lỗ tài sản
- 4. Nguyên nhân dẫn đến mất khả năng thanh khoản
1. Khả năng thanh khoản
Ngân hàng thanh toán Quốc tế (BIS, 2008) định nghĩa thanh khoản như khả năng của NH để tài trợ cho phần tăng tài sản và đáp ứng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, mà không gây thiệt hại, tổn thất cho NH.
Ủy ban Basel về giám sát NH cho rằng: “ Thanh khoản là thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn…”
.png)
Theo Duttweiler ( 2010), có hai khía cạnh khác nhau về thanh khoản, đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Thanh khoản tự nhiên là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian đáo hạn theo luật định. Thanh khoản nhân tạo là việc thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Theo Duttweiler (2010), rủi ro thanh khoản là rủi ro khi NH không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó sẽ kéo theo hậu quả không mong muốn.
Rủi ro thanh khoản bao gồm hai loại rủi ro: rủi ro thanh khoản vốn và rủi ro thanh khoản của thị trường. Rủi ro thanh khoản vốn là rủi ro mà NH sẽ không thể đáp ứng hiệu quả dòng tiền hiện tại và tương lai và nhu cầu giải ngân mà không ảnh hưởng hoạt động hàng ngày hoặc các điều kiện tài chính của công ty. Rủi ro thanh khoản của thị trường là rủi ro mà một NH không thể dễ dàng bù đắp hoặc loại bỏ theo giá thị trường (Vodova, 2013).
Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì thanh khoản là chính là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phi hợp lí ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.
• Một nguồn vốn được gọi là có khả năng thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh;
• Một tài sản được gọi là có khả năng thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp. Vấn đề thanh khoản của một số NH trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lại nhấn mạnh một thực tế rằng thanh khoản là rất quan trọng cho hoạt động của thị trường tài chính và các lĩnh vực NH, có một khoảng cách quan trọng vẫn tồn tại trong nghiên cứu thực nghiệm về thanh khoản và đo lường của nó. Chỉ một ít nghiên cứu nhằm xác định yếu tố quyết định của thanh khoản.
Tóm lại khả năng thanh khoản có thể được hiểu là khả năng mà NH có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đền hạn. Thanh khoản đại diện cho khả năng NH có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản.
2. Vai trò của thanh khoản trong hệ thống và nền kinh tế
Trong bối cảnh nền KT đang hội nhập với thế giới, xu thế cạnh trang ngày càng gay gắt giữa các NH trong và ngoài nước, vì vậy NH cần quản lý nguồn vốn và tài sản một cách thận trọng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong những tình thế cấp bách hơn bao giờ hết. Do đó, trong hệ thống NHTM và nền KT quốc gia thì khả năng thanh khoản đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng.
Đối với mỗi NH riêng lẻ, việc chuyển hóa các tài sản thành tiền với chi phí thấp nhất; thị trường tiền tệ được tiếp cận một cách dễ dàng; hoạt động thương mại diễn ra một cách thuận lợi để nâng cao lợi nhuận cũng như uy tín trên thị trường và tạo được lòng tin, thu hút nhiều khách hàng thì thanh khoản của NH đó mới đáp ứng tốt nhu cầu thị trường.
Đối với hệ thống NH, hệ thống ngày càng phát triển, thu h t được lượng tiền gửi của nhân dân, cũng như khối lượng thanh toán qua NH ngày càng tăng cao, do đó khả năng thanh khoản được duy trì ổn định. Từ đó, sẽ tạo được lòng tin của người dân vào hệ thống NH. Điều này, giúp hệ thống NH phát triển hơn, hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu khách hàng cũng như phát triển KT - XH.
Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân sẽ phát triển, nhiều nguồn vốn ưu đãi được hỗ trợ cho việc sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện phát triển cho XH dưới sự hỗ trợ của hệ thống NH phát triển mạnh mẽ, ổn định.
3. Biểu hiện của mất khả năng thanh khoản
3.1 Khái niệm chung
Mất khả năng thanh khoản đi nghĩa là NH đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn vốn để hoạt động, khi đó lượng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và của nền KT thì NH không có đủ để chi. Điều này dễ dẫn đến khách hàng sẽ tìm đến những NH khác để đáp ứng được nhu cầu vay của mình và làm cho NH mất đi khách hàng, từ đó mất đi những cơ hội đầu tư tốt và mang lại lợi ích nhất định cho NH. Một khi đã mất khách hàng có nhu cầu vay vốn thì sẽ dẫn đến mất khách hàng tiền gửi. Do đó khả năng huy động vốn của NH sẽ kém đi do lòng tin của người gửi tiền bị giảm sút.
Khi đó người quản lý tại NH phải đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác với chi phí thấp nhất nhằm bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng theo cách có lợi nhất cho NH.
3.2 Dấu hiệu cho thấy NH bị mất khả năng thanh khoản
3.2.1 Lãi suất huy động vốn của NH tăng giảm thất thường:
Lãi suất huy động kì hạn ngắn tăng cao hơn lãi suất huy động kì hạn dài. Dễ thấy rằng lúc này NH đang tập trung vào nguồn vốn ngắn hạn. Từ đó cho thấy, để đảm bảo khả năng thanh khoản của NH lúc này chỉ còn cách là huy động vốn một cách nhanh chóng từ các nguồn lực trong XH.
3.2.2 Lãi suất cho vay trên thị trường liên NH tăng nhanh
Do NH đang có vấn đề về thanh khoản và NH cần phải vay để đáp ứng nhu cầu vốn của mình, nguyên nhân do là việc huy động vốn từ dân cư gặp khó khăn.
• Dòng vốn tiền gửi của các thành phần KT trong XH vào các NHTM bị hạn chế do tác động của lạm phát và do lòng tin của khách hàng. Đối với các NHTM, môi trường kinh doanh được tạo điều kiện thuận lợi trong những năm gần đây đã làm cho các NH nảy sinh tư tưởng chủ quan, buông lỏng chính sách quản lý rủi ro trong khi tăng trưởng tín dụng quá nóng trong giai đoạn này đã làm mất đi tính cân đối trong cơ cấu tài sản, không đảm bảo đ ng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn của NHNN Việt Nam đề ra. Trong bối cảnh đó, NHNN muốn thu mua một lượng tiền đồng khá lớn từ trong lưu thông để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt một cách quyết liệt thì một số NHTM không thể đáp ứng kịp thời, mất cân đối trong cơ cấu đầu tư và làm NH mất đi thanh khoản.
• Do các NH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không chỉ về vốn mà còn cách quản lý các rủi ro, nên chỉ cần một vài NH có vấn đề trong khả năng thanh khoản của mình thì hệ lụy theo sau nó là phản ứng dây chuyền sẽ lan tỏa ra toàn hệ thống NH. Từ đó việc thực hiện chính sách quản lí rủi ro thanh khoản của NHTM sẽ không thực hiện được theo mong muốn một cách khoa học và bài bản, theo đ ng quy trình đã đề ra trước đó.
3.2.3 Giá cổ phiếu của NH được niêm yết trên sàn chứng khoán sụt giảm
Điều này cho thấy rằng lúc này cổ phiếu của NH không hấp dẫn với các nhà đầu tư, điều này cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lí người gửi tiền. Khi đó người dân có xu hướng rút tiền để đầu tư vào các kênh khác lợi nhuận cao hơn, từ đó giảm đi uy tín của NH nên giá cổ phiếu sẽ càng giảm hơn nữa. Sự sụt giảm mạnh giá cổ phiếu của NH có nguyên nhân từ việc nhà đầu tư nhận thấy rằng khủng hoảng thanh khoản đang hoặc sắp xảy ra với NH. Nguyên nhân gây nên sự sụt giảm mạnh cổ phiếu của các NHTM cổ phần, đặc biệt là hàng loạt NHTM cổ phần nhỏ cũng xuất phát từ vấn đề thanh khoản
• Rủi ro thanh khoản cũng là rủi ro tài chính do tính lỏng của tài sản không ổn định. Nếu chỉ số tín nhiệm tín dụng của tổ chức này giảm sút, tổ chức này đối mặt với tình trạng lượng tiền ra ồ ạt không dự báo được trước hay một sự kiện bất khả kháng nào đó khiến cho các đối tác không muốn giao dịch hoặc cho vay đối với tổ chức đó thì NH sẽ mất đi thanh khoản của mình. NH cũng đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu môi trường kinh doanh có nguy cơ mất khả năng thanh khoản. Rủi ro thanh khoản thường đi kèm với nhiều rủi ro khác. Nếu khách hàng không có khả năng thanh toán nợ vay thì NH sẽ phải huy động tiền từ những nguồn khác để thanh toán lại các khoản đi vay của NH mình để bù đắp vào lượng thanh khoản thiếu hụt này. Thêm vào đó nếu NH không có khả năng huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán khoản nợ đi vay của chính mình thì NH cũng phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ. Như vậy, rủi ro thanh khoản gắn liền với rủi ro tín dụng.
3.2.4 Bán lỗ tài sản
Khi NH đang gấp rút bán lỗ tài sản và sẵn sàng chịu lỗ chứng tỏ NH đang gặp vấn đề thanh khoản.
4. Nguyên nhân dẫn đến mất khả năng thanh khoản
Tình trạng khó khăn về thanh khoản của NH xuất phát từ những nguyên nhân chính sau: NH vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó, chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Do đó, đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguốn vốn huy động mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra đề chi trả tiền gửi đến hạn;
• Do tiền gửi NH rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi NH để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đó cả hai tác động đến trạng thái thanh khoản của NH. Hơn nữa những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà NH có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ
• Do NH có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả: các chứng khoán NH đang sở hữu có khả năng thanh khoản thấp, dự trữ của NH không đủ cho nhu cầu chi trả…
Ngoài ba nhân tố trên, điều cơ bản là các NH phải đặt sự ưu tiên cao đối với việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Mất cảnh giác trong lĩnh vực này có thể làm tổn hại nghiêm trọng niềm tin của công chúng vào NH.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê