1. Mua điện thoại trả góp mà không trả thì có bị đi tù không?

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về mua bán trả góp, gọi: 1900.6162
Luật sư trả lời:
Thứ nhất: Từ những thông tin mà bạn chia sẻ Luật sư nhận thấy đây hoàn toàn là bất lợi cho bạn vì bây giờ đã hết thời gian thanh toán tiền trả góp mà bạn mới chỉ trả được 01 tháng, như vậy là còn 11 tháng với số tiền là 11.000.000 chưa thanh toán. Bây giờ phía đơn vị cho bạn vay tiền trả góp họ sẽ yêu cầu bạn thanh toán nợ còn lại trong một thời gian nhất định nhưng nếu bạn không thanh toán được thì đơn vị cho vay sẽ khởi kiện ra Tòa để yêu cầu trả nợ theo Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Nếu mọi việc được thực hiện đầy đủ và dừng lại ở đây thì chỉ là vấn đề dân sự và bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ phải thanh toán số tiền còn thiếu cùng với tiền lãi suất chậm trả và có thể có tiền phạt chậm trả.
Điều 166. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.
Thứ hai: Đây thực tế là một loại hình vay tín chấp, tức là không thế chấp tài sản nên người vay có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không trả nợ mà cố tình trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ. Vì khi họ khởi kiện mà bạn cố tình không tham tố tụng theo giấy mời của Tòa thì có thể căn cứ vào các lý do như vậy để bên cho vay có thể yêu cầu cơ quan tố tụng khởi tố vụ án hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."
Như vậy đối với trường hợp bạn cố tình không trả nợ thì có thể phải đối mặt với mức án cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, đồng thời phải thực hiện thanh toán nợ cả gốc và lãi suất cũng như phạt chậm trả nếu có. Hy vọng từ nội dung tư vấn trên bạn có phương án giải quyết vấn đề của mình phù hợp nhất, hạn chế tối đa những rủi ro mà mình có thể mắc phải.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự miễn phí trực tuyến 24/24, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
2. Có bị phạt tù khi mua xe trả góp nhưng không trả được hết tiền?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội.
Theo như bạn trình bày thì bạn không hề có hành vi "nhằm chiếm đoạt tài sản" mà chỉ có hành vi không trả tiền cho cửa hàng xe máy vì điều kiện khó khăn và mất khả năng thanh toán. Như vậy, bạn không hề có dấu hiệu của tội lừa đảo do đó bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Nếu bạn chỉ do hoàn cảnh khó khăn không trả được nợ mà không bỏ trốn khỏi nơi cư trú hoặc không dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 BLHS.
Tuy nhiên nếu bạn bị cửa hàng xe máy khởi kiện thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo đúng quy định tại Điều 353 về chậm thực hiện nghĩa vụ như sau:
Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ
1. Chậm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.
2. Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.
>> Xem thêm: Mua điện thoại trả góp nhưng không trả tiền có bị công an xử lý không?
3. Mua điện thoại trả góp mà không có khả năng trả thì có bị truy tố không?
Luật sư trả lời:
Theo như bạn trình bày, chúng tôi xác định bạn và bên bán điện thoại đã xác lập một hợp đồng mua bán tài sản, được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản
Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.
Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.”
Do đó, bạn phải có nghĩa vụ trả số tiền bạn đã mua điện thoại cho bên bán theo quy định:
“Điều 440. Nghĩa vụ trả tiền
1, Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.
2, Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.
3, Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.”
Hợp đồng giữa bạn và bên bán giao kết đã có quy định về trả góp số tiền mua điện thoại, thời hạn trả. Trả góp là hình thức mua hàng mà ở đó người mua không cần phải trả toàn bộ số tiền trong một lần trả, mà có thể thanh toán nó theo kỳ hạn (6 tháng, 9 tháng, 12 tháng…) với nhiều mức lãi suất khác nhau (một số công ty còn hỗ trợ trả góp không tính lãi suất), tạo điều kiện cho người mua mua được những hàng hóa có giá trị cao nhưng không đủ khả năng tài chính. Bạn đã cam kết trả góp, nhưng bạn đã không thực hiện việc trả tiền cho bên bán (không kể vì lý do gì), vì thế bạn đã vi phạm hợp đồng, bên bán có quyền kiện bạn ra Tòa án để thực hiện việc thu hồi số tiền mà bạn chậm trả.
Theo như thông tin bạn cung cấp, thì bạn đã gặp tai nạn nên mới không thể trả nợ, trong trường hợp này nếu có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh nơi bạn nhập viện thì bạn sẽ được xem là đã gặp trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng đến nỗi không thể trả nợ, chậm trả nợ. Thì sẽ chứng minh được bạn không có hành vi trốn nợ, cố tình không trả nợ, như vậy sẽ không cấu thành nên hành vi lừa dối, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bên bán theo quy định tại Khoản 35 Điều 1 Bộ luật hính sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Do vậy, bạn vẫn phải thực hiện thanh toán cho bên bán điện thoại theo thời hạn đã quy định, việc bạn không thanh toán tiền cho bên bán điện thoại đúng thời hạn đã vi phạm quy định về hợp đồng mua bán và bộ luật dân sự 2015, bên bán điện thoại có thể khởi kiện bạn ra Tòa án để yêu cầu bạn trả tiền cho bên bán điện thoại, khi khởi kiện ra Tòa án thì đây là vụ án dân sự nên bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trừ trường hợp bạn bỏ trốn, lừa dối không thanh toán), Tòa án sẽ áp dụng các biện pháp như thanh lý tài sản của bạn để thu hồi nợ cho bên bán hàng. Bạn cần có sự hợp tác với bên bán hàng và Tòa án nếu bị kiện ra Tòa án. Bạn cũng có thể trả khoản nợ ngay cho bên bán điện thoại để tránh bị kiện ra Tòa án.
>> Tham khảo thêm: Chậm thanh toán tiền mua điện thoại trả góp hoặc vay tín chấp bị xử lý thế nào?
4. Mua trả góp mà không trả được tiền thì có bị đi tù không?
Luật sư trả lời:
Theo thông tin mà bạn cung cấp, thì hiện nay bạn đang mua điện thoại trả góp mà số tiền phải trả trong 6 tháng là 14 triệu đồng. Nhưng đến nay bạn vẫn chưa đóng tiền tháng nào. Hiện nay, theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì, bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn theo như thỏa thuận. Do đó, khi đến hạn trả mà bạn chưa trả đủ tiền thì đây được xem là hành vi vi phạm hợp đồng vay tiền mà hai bên đã thỏa thuận.
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Việc trả trả nợ đúng kỳ hạn cho bên cho vay là nghĩa vụ của bạn tức bên vay, bên cạnh việc phải trả số tiền gốc thì bạn còn phải trả số tiền lãi theo quy định tại khoản 5 nêu trên. Nếu hết thời hạn 6 tháng (thời hạn vay) hoặc trong quá trình vay nợ, bạn không có khả năng chi trả thì bên phía cho vay hoàn toàn có quyền khởi kiện bạn ra Tòa án theo các thủ tục Tố tụng dân sự để buộc bạn phải trả toàn bộ số tiền bao gồm cả nợ gốc và lãi. Trường hợp, sau khi Tòa án giải quyết mà bạn vẫn không trả được nợ, thì bên cho vay hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án xác minh các tài sản thuộc sở hữu của bạn để thanh lý bán đấu giá thu hồi khoản nợ.
Trong trường hợp bạn có các hành vi mà được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi và bổ sung năm 2017). Thì bên cho vay hoàn toàn có đủ căn cứ tố giác bạn phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Và có thể bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể được quy định tại:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Tóm lại, nếu bạn không có khả năng trả nợ cho bên vay và bạn không thực hiện các hành vi như: Bỏ trốn,… thì sẽ không có đủ các yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để giải quyết tốt nhất tình huống này thì điều đầu tiên bạn nên làm đó là tìm đến bên cho vay để xin tư vấn. Đồng thời, bạn phải tìm ra các giải pháp chứng minh bạn có khả năng trả nợ cho bên cho vay bằng mọi cách như: nhờ người thân trợ giúp, bán tài sản,…Các giải pháp của bạn cần đưa ra một cách chi tiết để thuyết phục để họ gia hạn cho thêm thời gian trả nợ và cố gắng thu xếp để hoàn trả khoản vay trên.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.