1. Mục đích sử dụng của dự phòng ngân sách và quỹ dự trữ tài chính?
Dự phòng ngân sách
Theo Khoản 8 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015, dự phòng ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng như một phần không thể thiếu trong cấu trúc dự toán chi ngân sách. Được hiểu đơn giản, đây là một khoản mục được tính đến và quyết định tại từng cấp ngân sách, là một phần của dự toán chi ngân sách chưa phân bổ. Điều này nghĩa là, dự phòng này được cơ quan có thẩm quyền quyết định và quản lý để đối mặt với những biến động, tình huống khẩn cấp, hoặc các vấn đề bất ngờ trong quá trình thực hiện ngân sách.
Dự phòng ngân sách nhà nước giúp đảm bảo tính linh hoạt và khả năng ứng phó nhanh chóng của ngân sách trước những thách thức không dự kiến. Việc quyết định và quản lý dự phòng này tại mỗi cấp ngân sách được thực hiện bằng cách rà soát và đánh giá cụ thể tình hình kinh tế - xã hội, dự báo tình hình thu - chi, từ đó xác định mức dự phòng cần thiết. Điều này đồng thời là biện pháp đảm bảo tính ổn định và an toàn của ngân sách nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh biến động và không chắc chắn của nền kinh tế.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Luật Ngân sách nhà nước 2015, khoản dự phòng trong ngân sách nhà nước được sử dụng cho các mục đích quan trọng nhằm đảm bảo tính linh hoạt và khẩn cấp của chi ngân sách. Cụ thể, các mục đích sử dụng dự phòng ngân sách nhà nước bao gồm:
- Phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, cứu đói:
Ngân sách dự phòng được dùng để ứng phó với các tình huống khẩn cấp như thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, cứu đói. Điều này giúp đảm bảo rằng có nguồn lực tài chính sẵn có để hỗ trợ cộng đồng và giai đoạn khẩn cấp.
- Nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ cần thiết khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp mình mà chưa được dự toán:
Khoản dự phòng cũng được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt quan trọng liên quan đến quốc phòng, an ninh và các công việc cần thiết khác mà chưa được dự toán trước đó.
- Hỗ trợ ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ quy định tại điểm a khoản này:
Dự phòng ngân sách nhà nước có vai trò hỗ trợ ngân sách cấp dưới, đặc biệt là khi ngân sách cấp dưới đã sử dụng dự phòng cấp mình nhưng vẫn còn thiếu hụt nguồn lực để đáp ứng nhu cầu cụ thể.
- Hỗ trợ các địa phương khác theo quy định:
Dự phòng ngân sách còn được sử dụng để hỗ trợ các địa phương khác theo quy định tại Khoản 9 Điều 9 của Luật, nhằm đảm bảo sự đồng đều và công bằng trong việc phân bổ nguồn lực ngân sách giữa các địa phương trong cả nước.
Quỹ dự trữ tài chính
Theo quy định tại khoản 17 của Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015, quỹ dự trữ tài chính là một phần quan trọng của hệ thống tài chính Nhà nước. Đây là một quỹ thuộc sở hữu và quản lý của Nhà nước, được hình thành từ nguồn tiền chính là ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Quỹ dự trữ tài chính có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc duy trì ổn định và an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia. Đây là nơi tích lũy nguồn lực tài chính dự phòng, phục vụ cho các mục tiêu quốc gia đặc biệt và những tình huống khẩn cấp, không lường trước được mà quốc gia có thể phải đối mặt. Quỹ này được hình thành không chỉ từ ngân sách nhà nước mà còn từ các nguồn tài chính khác, đảm bảo nguồn lực đa dạng và linh hoạt. Việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính được thực hiện theo quy định của pháp luật, có sự minh bạch và tuân thủ các quy tắc để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quản lý tài chính của Nhà nước.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Ngân sách nhà nước 2015, quỹ dự trữ tài chính được sử dụng trong các trường hợp cụ thể để đảm bảo nguồn lực tài chính linh hoạt và hiệu quả. Các trường hợp sử dụng quỹ dự trữ tài chính bao gồm:
- Ngân sách tạm ứng:
Cho ngân sách tạm ứng để đáp ứng các nhu cầu chi theo dự toán chi ngân sách khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn trả ngay trong năm ngân sách.
- Bù đắp bội chi không đạt mức dự toán:
Trong trường hợp bội chi không đạt mức dự toán được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định và thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng, với mức độ nghiêm trọng, nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán mà sau khi sắp xếp lại ngân sách, sử dụng hết dự phòng ngân sách mà vẫn chưa đủ nguồn, được sử dụng quỹ dự trữ tài chính để đáp ứng các nhu cầu chi, với mức sử dụng trong năm tối đa không quá 70% số dư đầu năm của quỹ.
Tại Điều 8 Nghị định 163/2016/NĐ-CP, người có thẩm quyền quyết định sử dụng quỹ dự trữ tài chính được quy định như sau:
- Đối với quỹ dự trữ tài chính trung ương, Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định tạm ứng để đáp ứng nhu cầu chi quy định.
- Thủ tướng Chính phủ quyết định sử dụng để chi cho các trường hợp quy định.
- Đối với quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sử dụng trong các trường hợp quy định.
Ngoài ra, quỹ dự trữ tài chính được gửi tại Kho bạc Nhà nước và được Kho bạc Nhà nước trả lãi theo mức lãi suất quy định. Ngân sách cấp tỉnh và cấp huyện, cấp xã có thể được tạm ứng từ quỹ dự trữ tài chính của cấp trên và phải hoàn trả tạm ứng ngay trong năm ngân sách, đảm bảo sự linh hoạt và ổn định trong quản lý tài chính của các cấp chính quyền.
2. Dự phòng ngân sách nhà nước được hình thành từ đâu?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 của Luật Ngân sách nhà nước 2015, mức dự phòng trong ngân sách nhà nước được xác định rộng lớn, nằm trong khoảng từ 2% đến 4% của tổng chi ngân sách tại mỗi cấp, từ trung ương đến địa phương. Điều này tạo ra một phạm vi linh hoạt để cơ quan quản lý ngân sách có thể điều chỉnh mức dự phòng theo tình hình kinh tế - xã hội cụ thể, đồng thời giúp đảm bảo khả năng ứng phó với các biến động và thách thức đột ngột trong quản lý ngân sách.
Chấp nhận từ chính nguyên tắc nêu trên, Nghị định 163/2016/NĐ-CP tiếp tục củng cố quy định về mức dự phòng trong ngân sách. Khoản 1 Điều 7 của nghị định này xác định rằng cả ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương đều được bố trí khoản dự phòng, và mức này tiếp tục nằm trong khoảng từ 2% đến 4% tổng chi ngân sách tại mỗi cấp.
Quy định này không chỉ làm nổi bật sự nhất quán giữa các cấp ngân sách trong việc quản lý dự phòng mà còn thể hiện cam kết của hệ thống ngân sách nhà nước trong việc duy trì sự linh hoạt và ổn định trong tài chính, từng bước tiến gần hơn đến mục tiêu quản lý ngân sách một cách hiệu quả và bền vững.
3. Quỹ dự trữ tài chính được thu từ nguồn nào?
Theo quy định tại khoản 1 của Điều 11 Luật Ngân sách nhà nước 2015, cũng như Điều 8 Nghị định 163/2016/NĐ-CP, quỹ dự trữ tài chính là một công cụ quan trọng được cấp trung ương và cấp tỉnh sử dụng để đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ thống tài chính quốc gia. Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có trách nhiệm lập và quản lý quỹ dự trữ tài chính từ các nguồn tăng thu, kết dư ngân sách, bố trí trong dự toán chi ngân sách hằng năm, và các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Quỹ dự trữ tài chính được hình thành từ nhiều nguồn, bao gồm bố trí trong dự toán chi ngân sách hằng năm, kết dư ngân sách theo quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật Ngân sách nhà nước, tăng thu ngân sách theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Ngân sách nhà nước, lãi tiền gửi quỹ dự trữ tài chính, và các nguồn tài chính khác được quy định bởi pháp luật.
Một điểm quan trọng cần lưu ý là số dư của quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp (cấp trung ương và cấp tỉnh) không được vượt quá 25% dự toán chi ngân sách hằng năm của cấp đó. Điều này nhằm đảm bảo sự linh hoạt và hiệu quả trong quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính của quỹ dự trữ, đồng thời giữ cho số dư này không bao gồm chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên. Như vậy, việc quản lý và sử dụng quỹ dự trữ tài chính được thực hiện theo các quy định cụ thể và minh bạch, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính của Nhà nước.
Quý khách xem thêm bài viết sau: Thu ngân sách nhà nước là gì? Vai trò thu ngân sách nhà nước
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.