>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162

 

Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý quy định về tiền lương, trợ cấp

- Bộ luật lao động năm 2019

- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

- Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015

 

2. Mức hưởng các khoản trợ cấp bảo hiểm khi mức lương cơ sở không tăng

Ngày 12/11/2020, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2021, chính thức chốt không tăng lương cơ sở. Cụ thể, vẫn giữ ở mức cũ là 1.490.000 đồng/tháng. Vì lương cơ sở không tăng nên một số khoản trợ cấp Bảo hiểm xã hội của người lao động năm 2021 vẫn sẽ giữ nguyên như năm 2020, mà không tăng như thông lệ.

 

2.1. Trợ cấp một lần khi sinh con

Căn cứ Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: Lao động nữ sinh con thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con.

Vậy, năm 2021 lương cơ sở không tăng nên mức trợ cấp được nhận = 2 x 1,49 triệu đồng = 2,98 triệu đồng.

 

2.2. Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản

Căn cứ Điều 29, 41 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản 06 tháng, trong khoảng 30 ngày đầu làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05-10 ngày. Mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Do đó, mức trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe = 1,49 triệu đồng x 30%= 447.000 đồng/ngày.

 

2.3. Mức trợ cấp lương hưu tối thiểu hàng tháng

Căn cứ khoản 5 Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội: Mức lương hưu hàng tháng thấp nhất của Người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu bằng mức lương cơ sở.

Vì mức lương cơ sở không tăng nên mức lương hưu thấp nhất được nhận bằng 1,49 triệu đồng/tháng.

 

2.4. Trợ cấp mai táng

Căn cứ Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: Người đang đóng Bảo hiểm xã hội, đang bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội, người chết do tai nạn lao động, người đang hưởng lương hưu… khi chết thì người lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng.

Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở nên mức hưởng = 1,49 triệu đồng x 10 = 14,9 triệu đồng.

 

2.5. Trợ cấp tuất hàng tháng

Căn cứ Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội: Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương cơ sở. Trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hàng tháng bằng 70% mức lương cơ sở.

Theo đó:

(i) Với mỗi thân nhân = 50% x 1,49 triệu đồng/tháng = 745.000 đồng/tháng.

(ii) Với thân nhân không có người nuôi dưỡng trực tiếp = 70% x 1,49 triệu đồng/tháng = 1.043.000 đồng/tháng.

 

2.6. Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau

Căn cứ Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: Người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm, trong khoảng 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05-10 ngày trong một năm.

Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Do lương cơ sở năm 2021 giữ nguyên nên trợ cấp được nhận như năm 2020 là 447.000 đồng/ngày.

 

2.7. Trợ cấp khi bị suy giảm khả năng lao động

Căn cứ Điều 48, 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015:

+ Thứ nhất, trợ cấp một lần khi bị suy giảm từ 5%-30%: Người lao động suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm lần mức lương cơ sở: 5 x 1,49 triệu đồng = 7,45 triệu đồng.

Sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở: 0,5 x 1,49 triệu đồng = 745.000 đồng.

+ Thứ hai, trợ cấp hàng tháng khi bị suy giảm từ 31% trở lên: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở. Sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.

Mức trợ cấp nếu suy giảm 31% khả năng lao động = 30% x 1,49 triệu đồng/tháng = 447.000 đồng/tháng.

Sau đó cứ suy giảm thêm 1% được hưởng thêm 2% x 1,49 triệu đồng/tháng = 29.800 đồng/tháng.

 

2.8. Trợ cấp phục vụ Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống

Căn cứ Điều 52 Luật An toàn, vệ sinh lao động: Mức trợ cấp được hưởng như người bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên nêu trên. Ngoài ra, hàng tháng được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở là 1,49 triệu đồng/tháng.

 

2.9. Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật

Căn cứ Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động: Người lao động nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau điều trị thương tật, bệnh tật được hưởng trợ cấp một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Theo đó, mức trợ cấp được hưởng là 447.000 đồng/ngày.

 

2.10 Trợ cấp 1 lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Căn cứ Điều 53 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015: Thân nhân Người lao động được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở tại tháng Người lao động bị chết.

Mức trợ cấp = 36 x 1,49 triệu đồng = 53,64 triệu đồng.

 

3. Từ năm 2022 Lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội thay đổi thế nào ?

Để đảm bảo đời sống cho người lao động và tạo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, trong năm 2022 tới đây, dự kiến sẽ có nhiều thay đổi về mức hưởng lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội ảnh hưởng tới mọi người lao động.

 

3.1. Dự kiến tăng mức hưởng lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội từ 01/01/2022

Mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành và đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Khoản 1 Điều 2 dự thảo này ghi nhận:

” Từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 12 năm 2021 đối với các đối tượng quy định tại Điều 1 Nghị định này. “

Như vậy, nếu dự thảo này được Chính phủ thông qua, từ ngày 01/01/2022, sẽ có 08 đối tượng được tăng thêm 15% mức lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng, bao gồm:

(i) Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang); quân nhân, công an và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.

(ii) Cán bộ xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng.

(iii) Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng khi đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng.

(iv) Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng.

(v) Quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng.

(vi) Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương đang hưởng trợ cấp hằng tháng.

(vii) Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, Công an nhân dân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng.

(viii) Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

Bên cạnh đó, nếu sau khi điều chỉnh mà mức hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hằng tháng vẫn thấp hơn 2,5 triệu đồng/tháng thì những đối tượng trên còn được tăng thêm mức hưởng như sau:

(i) Tăng thêm 200.000 đồng/người/tháng: Những người có mức hưởng từ 2,3 triệu đồng/người/tháng trở xuống.

(ii) Tăng lên bằng 2,5 triệu đồng/người/tháng: Những người có mức hưởng từ 2,3 – dưới 2,5 triệu đồng.

 

3.2. Sắp bỏ lương cơ sở, mức hưởng nhiều khoản trợ cấp Bảo hiểm xã hội sẽ bị thay đổi?

Bãi bỏ lương cơ sở là một trong những nội dung quan trọng trong cải cách tiền lương được nêu tại Nghị quyết số 27/NQ-TW của Ban chấp hành trung ương Đảng. Theo đúng lộ trình của Nghị quyết số 27, lương cơ sở sẽ bị bãi bỏ từ năm 2021 nhưng thời điểm này đã được lùi lại đến ngày 01/7/2022.

Trong khi đó, lương cơ sở là một trong những căn cứ để tính mức hưởng nhiều loại trợ cấp Bảo hiểm xã hội cho người lao động. Nếu bỏ lương cơ sở, các khoản trợ cấp Bảo hiểm xã hội của người lao động sẽ bị thay đổi.

Hiện nay, lương cơ sở đang được áp dụng để tính các loại trợ cấp Bảo hiểm xã hội sau:

Trợ cấp 1 lần khi sinh con hoặc nhận con nuôi

Căn cứ Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sau sinh

Theo Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, lao động nữ ngay sau thời gian hưởng thai sản, trong khoảng 30 ngày đầu làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 – 10 ngày. Mức hưởng một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau

Căn cứ Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 – 10 ngày/năm.

Cũng theo Điều này, mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Trợ cấp khi bị suy giảm khả năng lao động

Căn cứ: Điều 48, 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

Trợ cấp một lần khi bị suy giảm từ 5% – 30%:

Người lao động bị suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 05 lần mức lương cơ sở. Sau đó cứ suy giảm khả năng lao động thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở.

Trợ cấp hàng tháng khi người lao động bị suy giảm từ 31% trở lên:

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở. Sau đó cứ suy giảm khả năng lao động thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.

Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật

Căn cứ Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động.Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 – 10 ngày/lần bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Mức trợ hưởng 01 ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Trợ cấp phục vụ

Theo Điều 52 Luật An toàn, vệ sinh lao động, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng trợ cấp hằng tháng do suy giảm khả năng lao động thì mỗi tháng còn được hưởng thêm trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở.

Trợ cấp 1 lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Theo Điều 53 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, thân nhân người lao động được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở tại tháng người lao động bị chết.

Mức trợ cấp lương hưu tối thiểu hàng tháng

Căn cứ khoản 5 Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, mức lương hưu hàng tháng thấp nhất của người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu bằng mức lương cơ sở.

Trợ cấp mai táng

Theo Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người đang đóng Bảo hiểm xã hội, đang bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội, người chết do tai nạn lao động, người đang hưởng lương hưu… khi chết thì người lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở.

Trợ cấp tuất hàng tháng

Căn cứ: Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội.

Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương cơ sở. Trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hàng tháng bằng 70% mức lương cơ sở.

Như vậy, sắp tới đây khi bỏ lương cơ sở, căn cứ tính các khoản trợ cấp trên sẽ bị thay đổi. Tuy nhiên, những nội dung này bị thay thế ra sao từ ngày 01/7/2022 thì hiện chưa có hướng dẫn. Do đó, vẫn cần chờ các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập