Một trong những phương thức của ngân hàng để giải quyết nợ vay là nắm giữ bất động sản, đây được coi là biện pháp bảo đảm tính khả thi của việc thu hồi nợ vay và đảm bảo sự an toàn cho ngân hàng.

 

1. Trong trường hợp tài sản cầm cố hoặc thế chấp, việc xử lý sẽ được thực hiện thông qua các biện pháp cụ thể nào?

Dựa trên điểm chi phí tại Điều 303 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, đã được viết rõ những hình thức cụ thể trong việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp như sau:
Một loạt các cách thức tiếp cận xử lý tài sản cầm cố và thế chấp được quy định trong điều này, đem lại sự lựa chọn linh hoạt cho các bên liên quan
1. Bên bảo đảm cùng với bên nhận bảo đảm có khả năng đạt thoả thuận đối với một trong những phương thức xử lý dưới đây:
   a) Tiến hành bán đấu giá tài sản;
   b) Bên nhận bảo đảm tự thực hiện bán tài sản;
   c) Bên nhận bảo đảm có thể tiến hành sử dụng tài sản bảo đảm trực tiếp thay cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
   d) Hoặc thậm chí có thể sử dụng các phương thức khác tùy thuộc vào các quy định của pháp luật.
2. Nếu không có sự thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản cả hai bên tại khoản 1 đã đề cập thì tài sản sẽ phải được bán đấu giá, tại trường hợp ngoại trừ những quy định khác có thể được áp dụng.
Như vậy, trong trường hợp tài sản thế chấp là bất động sản, hành động xử lý sẽ được thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Tiến hành bán đấu giá tài sản;
- Bên nhận bảo đảm tự thực hiện việc bán tài sản;
- Bên nhận bảo đảm có thể sử dụng tài sản thế chấp trực tiếp để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
- Sử dụng những hình thức khác mà pháp luật đã quy định.
 

2. Liên quan đến việc xử lý các khoản nợ vay, ngân hàng có quyền giữ lại tài sản là bất động sản không? Thời gian mà tài sản được giữ lại là bao lâu?

Căn cứ vào quy định tại Điều 132 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, các quy định dưới đây liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đã được tạo ra:

Trong việc kinh doanh bất động sản, tổ chức tín dụng phải tuân theo một số nguyên tắc chặt chẽ. Trừ một số tình huống cụ thể được nêu rõ dưới đây, tổ chức tín dụng không được tham gia vào việc kinh doanh bất động sản:

  • Tổ chức tín dụng có quyền mua, đầu tư và nắm giữ bất động sản nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng làm trụ sở kinh doanh, nơi làm việc hoặc cơ sở lưu trữ để phục vụ cho những hoạt động nghiệp vụ trực tiếp của tổ chức tín dụng.
  • Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn được cho phép cho thuê một phần không sử dụng hết của trụ sở kinh doanh, miễn là phần này thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng.
  • Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là tổ chức tín dụng có thể nắm giữ bất động sản màu mắt do việc xử lý nợ vay. Trong khoảng thời gian 03 năm, bắt đầu từ ngày mà quyết định về việc xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản được thực hiện, tổ chức tín dụng phải thực hiện bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này. Mục tiêu của việc này là đảm bảo tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định, và đồng thời đảm bảo mục đích sử dụng của tài sản cố định theo quy định tại Điều 140 của Luật nêu trên.

Tóm lại, thế nên, trong tình huống này, tổ chức tín dụng chỉ được phép nắm giữ bất động sản khi đây liên quan đến việc xử lý nợ vay. Thêm vào đó, trong vòng 03 năm, bắt đầu từ ngày được quyết định xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng cần phải thực hiện một trong các biện pháp như bán, chuyển nhượng hoặc mua lại tài sản bảo đảm này. Điều này nhằm đảm bảo rằng tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định vẫn được giữ nguyên và mục đích sử dụng của tài sản cố định được duy trì theo quy định tại Điều 140 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

 

3. Phương thức thanh toán số tiền liên quan đến việc xử lý tài sản bất động sản thế chấp được thực hiện ra sao?

Theo quy định tại Điều 307 trong Bộ Luật Dân sự năm 2015, đã được đề ra những hướng dẫn chi tiết về việc thanh toán số tiền phát sinh từ việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp, bên cạnh những điều quy định ban đầu:

Tài trợ bằng cách xử lý tài sản cầm cố và thế chấp không chỉ có thể hoàn thành một cách đúng đắn mà còn tuân theo một số bước chi tiết. Số tiền phát sinh từ quá trình xử lý tài sản cầm cố và thế chấp, sau khi đã giảm đi các khoản chi phí liên quan đến việc bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, sẽ được thanh toán theo một thứ tự ưu tiên đã được quy định tại Điều 308 của Bộ luật.

Điều này còn định rõ thêm một số trường hợp đặc biệt:

  • Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp sau khi đã khấu trừ các chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp vượt quá giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, sự chênh lệch này phải được hoàn lại cho bên bảo đảm.
  • Trong trường hợp số tiền từ việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp sau khi đã khấu trừ chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, phần nghĩa vụ chưa thanh toán sẽ được coi là nghĩa vụ không có bảo đảm, ngoại trừ khi có thỏa thuận bổ sung về tài sản bảo đảm.
  • Bên nhận bảo đảm được phép đòi hỏi bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa thanh toán.

Theo đó, số tiền từ việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp, sau khi đã khấu trừ các khoản phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, sẽ được thanh toán theo một sơ đồ ưu tiên cụ thể:

  • Khi các biện pháp bảo đảm đều đã thiết lập hiệu lực đối với người thứ ba, thứ tự thanh toán sẽ tuân theo thứ tự mà các biện pháp này đã được thiết lập;
  • Khi một số biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba, và một số khác không, nghĩa vụ được bảo đảm bởi biện pháp có hiệu lực đối với người thứ ba sẽ được thanh toán trước;
  • Trong trường hợp không có biện pháp bảo đảm nào phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba, thứ tự thanh toán sẽ được xác định bằng cách thiết lập các biện pháp bảo đảm.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng, khi số tiền phát sinh từ việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp, sau khi đã khấu trừ các chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, vượt quá giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, phần chênh lệch này sẽ phải được trả lại cho bên bảo đảm.

Cuối cùng, trong trường hợp số tiền phát sinh từ việc xử lý tài sản cầm cố và thế chấp, sau khi đã khấu trừ các chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, phần nghĩa vụ chưa thanh toán sẽ được coi là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận bổ sung liên quan đến tài sản bảo đảm.

Bên nhận bảo đảm sẽ được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ mà vẫn chưa được thanh toán.

Công ty Luật Minh Khuê luôn mong muốn chia sẻ với quý khách hàng những kiến thức tư vấn hữu ích và chi tiết hơn. Nếu quý khách hàng đang đối mặt với bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có bất cứ câu hỏi nào cần sự giải đáp, chúng tôi rất hoan nghênh quý khách hàng liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến thông qua số hotline độc quyền 1900.6162. Để tiện lợi hơn, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để chúng tôi có cơ hội hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng và đầy đủ. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự hợp tác đáng trọng từ phía quý khách hàng.