Mục lục bài viết
1. Trường hợp NHNN chấm dứt kiểm soát đặc biệt với ngân hàng
Điều 152 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định rõ các trường hợp mà Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền chấm dứt kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng. Các trường hợp này bao gồm:
- Khi hoạt động của tổ chức tín dụng đã được điều chỉnh và trở lại bình thường, không còn cần kiểm soát đặc biệt.
- Trong trường hợp tổ chức tín dụng trong quá trình kiểm soát đặc biệt được sáp nhập hoặc hợp nhất vào một tổ chức tín dụng khác. Trong tình huống này, kiểm soát đặc biệt không còn áp dụng.
- Khi tổ chức tín dụng không thể khôi phục khả năng thanh toán, việc kiểm soát đặc biệt cũng sẽ chấm dứt.
Quyết định chấm dứt kiểm soát đặc biệt phải được thông báo cho các tổ chức và cá nhân liên quan, để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình này.
Trong trường hợp chấm dứt kiểm soát đặc biệt theo quy định tại điểm c khoản 1 của Điều 152 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải có văn bản chấm dứt việc áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán và gửi thông tin này đến Tòa án để thực hiện theo quy định pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo rằng các quyết định liên quan đến kiểm soát đặc biệt được thực hiện đúng quy trình và theo đúng quy định của pháp luật.
2. Nội dung phương án phục hồi ngân hàng được kiểm soát đặc biệt
Điều 148a của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi 2017) quy định chi tiết về phương án phục hồi cho ngân hàng khi được kiểm soát đặc biệt, bao gồm các nội dung sau:
- Phương án tăng vốn điều lệ và thời hạn thực hiện phương án tăng vốn điều lệ trong những trường hợp cụ thể, như khi giá trị thực của vốn điều lệ dưới mức vốn pháp định, tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn mức quy định bởi Ngân hàng Nhà nước, hoặc theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.
- Phương án hoạt động kinh doanh trong giai đoạn phục hồi để đảm bảo sự ổn định và khôi phục hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Phương án cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành để tối ưu hóa cách tổ chức hoạt động và quản lý.
- Phương án xử lý các vấn đề tồn tại, yếu kém về tài chính, nợ xấu, tài sản bảo đảm, và các vi phạm pháp luật.
- Phương án chi trả theo lộ trình đối với tiền gửi của khách hàng là pháp nhân, tiền gửi, tiền vay của tổ chức tín dụng khác là một phần quan trọng trong quá trình phục hồi của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt. Nó bao gồm cả việc xác định cách thức trả lại tiền gửi và tiền vay của khách hàng trong một thời gian nhất định, cùng với việc xem xét và thực hiện phương án xử lý các khoản vay đặc biệt đã vay. Điều này đảm bảo tính minh bạch và công bằng đối với khách hàng, đồng thời hỗ trợ tổ chức tín dụng trong việc khôi phục khả năng thanh toán và hoạt động bình thường.
- Biện pháp hỗ trợ quy định tại Điều 148b của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 cần được áp dụng.
- Lộ trình và thời hạn thực hiện phương án phục hồi
Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước dự kiến chỉ định một tổ chức tín dụng hỗ trợ, ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 của Điều 148a, tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt sẽ phối hợp với tổ chức tín dụng hỗ trợ để thực hiện thêm các nội dung sau:
- Phương án hỗ trợ của tổ chức tín dụng hỗ trợ đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt và phương án hỗ trợ đối với tổ chức tín dụng hỗ trợ.
- Phương án trả lương, thù lao, tiền thưởng, và các chế độ khác cho những người được bổ nhiệm tham gia quản trị và điều hành tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt là một phần quan trọng trong việc đảm bảo tính bền vững và ổn định của tổ chức này. Điều này bao gồm việc xác định mức lương và các khoản thù lao thích hợp, tiền thưởng dựa trên hiệu suất làm việc, và các chế độ quản trị như bảo hiểm và phúc lợi cho họ. Phương án này cần được thiết kế sao cho công bằng, thúc đẩy hiệu suất làm việc, và đồng thời đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật.
- Phương án trả lương cho người lao động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt trong thời gian kiểm soát đặc biệt.
3. Biện pháp hỗ trợ thực hiện phương án phục hồi ngân hàng được kiểm soát đặc biệt
Điều 148b của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi 2017) quy định rõ các biện pháp hỗ trợ áp dụng cho Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, bao gồm các điểm sau:
Đối với các ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính:
- Chúng có thể thực hiện bán nợ xấu không có tài sản bảo đảm hoặc nợ xấu có tài sản bảo đảm mà tài sản đảm bảo đang bị kê biên, hoặc không có giấy tờ hợp lệ cho tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.
- Có quyền vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% của Ngân hàng Nhà nước. Điều này giúp cung cấp tài trợ tài chính với điều kiện ưu đãi, giảm bớt gánh nặng tài chính và hỗ trợ tổ chức tín dụng trong việc thực hiện phương án phục hồi để đảm bảo hoạt động ổn định và bền vững
- Được phép hạch toán dần vào chi phí phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của khoản nợ, khoản phải thu, khoản đầu tư góp vốn, mua cổ phần đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán với giá bán và số tiền dự phòng đã trích lập của các khoản 1 Điều 148b phù hợp với tình hình tài chính của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt với thời hạn tối đa là 10 năm.
- Có quyền miễn, giảm tiền lãi vay tái cấp vốn, và vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước là một biện pháp hỗ trợ quan trọng trong việc đảm bảo rằng tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có đủ nguồn tài trợ và lưu lượng tiền mặt để thực hiện phương án phục hồi và duy trì hoạt động bình thường. Biện pháp này giúp giảm gánh nặng tài chính, đồng thời giúp củng cố nền kinh tế và hệ thống tài chính tổng thể.
- Công ty tài chính có thể vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% từ Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thông qua Quỹ dự phòng nghiệp vụ.
- Có thể nhận tiền gửi hoặc vay của tổ chức tín dụng hỗ trợ với lãi suất ưu đãi.
- Được phép mua nợ, trái phiếu doanh nghiệp do tổ chức tín dụng hỗ trợ nắm giữ đang được phân loại nhóm nợ đủ tiêu chuẩn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Có thể mua và đầu tư hệ thống công nghệ thông tin vượt tỷ lệ quy định tại Điều 140 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010.
- Có thể áp dụng các biện pháp khác theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.
Đối với quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô:
- Chúng có thể áp dụng biện pháp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 148b của Luật Các tổ chức tín dụng 2010.
- Có quyền vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% từ Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thông qua Quỹ dự phòng nghiệp vụ.
- Tổ chức tài chính vi mô có thể vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước với lãi suất ưu đãi đến mức 0%.
- Quỹ tín dụng nhân dân có thể vay đặc biệt của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam từ Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân với lãi suất ưu đãi đến mức 0%.
- Có quyền áp dụng các biện pháp khác theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.
Cuối cùng, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thể hạch toán giảm Quỹ dự phòng nghiệp vụ để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được. Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam cũng có quyền hạch toán giảm Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được.
Xem thêm bài viết: Bao nhiêu tuổi được mở tài khoản ngân hàng? Điều kiện mở thẻ ATM là gì?.
Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ ngay đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn