- 1. Ngân hàng là gì?
- 2. Kiểm soát đặc biệt là gì? Trường hợp nào ngân hàng bị đặt vào kiểm soát đặc biệt?
- 2.1. Kiểm soát đặc biệt là gì?
- 2.2. Trường hợp quyết định đặt ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt
- 3. Thẩm quyền quyết định trong kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng
- 4. Hình thức kiểm soát đặc biệt là gì?
- 5. Nội dung của quyết định kiểm soát đặc biệt
- 6. Thông báo về kiểm soát đặc biệt như thế nào?
Thưa luật sư, đối với ngân hàng yếu kém thì trường hợp nào sẽ bị đặt vào kiểm soát đặc biệt? Xin luật sư cho biết thẩm quyền và trình tự, thủ tục đặt vào kiểm soát đặc biệt đối với ngân hàng yếu kém ạ. Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn! (Nguyễn Hảo - Hà Nội)
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý
- Luật Ngân hàng nhà nươc Việt Nam năm 2010
- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017
- Thông tư 11/2019/TT-NHNN
1. Ngân hàng là gì?
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
2. Kiểm soát đặc biệt là gì? Trường hợp nào ngân hàng bị đặt vào kiểm soát đặc biệt?
2.1. Kiểm soát đặc biệt là gì?
Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán.
2.2. Trường hợp quyết định đặt ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 146 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017 và hướng dẫn tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư 11/2019/TT-NHNN, khi tổ chức tín dụng rơi vào trường hợp mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc khả năng thanh toán thì sẽ bị đặt vào kiểm soát đặc biệt. Cụ thể đó là:
Tổ chức tín dụng mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả:
+ Tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả khi thiếu hụt tài sản có tính thanh khoản cao ở mức 20% trở lên tại thời điểm tính toán tỷ lệ khả năng chi trả dẫn đến không duy trì được tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 130 của Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian 03 tháng liên tục.
+ Tổ chức tín dụng mất khả năng chi trả khi không có khả năng thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 01 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và có tỷ lệ giữa tổng nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, nợ cơ cấu tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được so với tổng nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được ở mức 10% trở lên tại thời điểm liền sau 01 tháng kể từ ngày nghĩa vụ nợ đến hạn thanh toán.
Tổ chức tín dụng mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán:
+ Tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng thanh toán khi tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 thấp hơn 4% trong thời gian 06 tháng liên tục và có tỷ lệ giữa tổng nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, nợ cơ cấu tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được so với tổng nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được ở mức 10% trở lên tại thời điểm liền sau 06 tháng liên tục mà tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 của tổ chức tín dụng thấp hơn 4%.
+ Tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán khi không có khả năng thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 03 tháng kể từ ngày nghĩa vụ nợ đến hạn thanh toán.
3. Thẩm quyền quyết định trong kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng
Căn cứ quy định tại Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN, thẩm quyền quyết định kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng đó là:
Thứ nhất, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định các nội dung sau đây đối với tổ chức tín dụng không phải là quỹ tín dụng nhân dân:
+ Đặt tổ chức tín dụng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 145 Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 4, Điều 5 Thông tư này vào kiểm soát đặc biệt;
+ Hình thức kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Điều 7 Thông tư này;
+ Thành lập Ban kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Điều 14, 15 Thông tư này;
+ Thời hạn kiểm soát đặc biệt;
+ Thông báo về kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Điều 9 Thông tư này;
+ Công bố thông tin kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Điều 10 Thông tư này;
+ Giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ, ghi giảm vốn điều lệ của ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt được Chính phủ phê duyệt phương án chuyển giao bắt buộc theo quy định tại Điều 11 Thông tư này;
+ Gia hạn thời hạn kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Điều 12 Thông tư này;
+ Chấm dứt kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Điều 13 Thông tư này;
+ Các nội dung khác quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Thông tư này.
Thứ hai, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh) xem xét, quyết định các nội dung sau đây đối với tổ chức tín dụng là quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính trên địa bàn:
+ Các nội dung quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e, h, i khoản 1 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN
+ Các nội dung quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 146; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7 Điều 146a (trừ nội dung về cho vay đặc biệt, gia hạn thời hạn cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước); khoản 2, 6 Điều 146đ; điểm a, b, d khoản 2 Điều 148b; khoản 2, 3, 4 (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này) Điều 148c; khoản 2, 3, 4, 5, 6, 11 Điều 148đ; khoản 1, 2 Điều 149c và khoản 1, 2 Điều 149d Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với các nội dung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 148b; khoản 7, 12 Điều 148đ và khoản 3 Điều 149c Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) chấp thuận trước khi thực hiện.
Thứ ba, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh báo cáo, đề xuất Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) kiến nghị Chính phủ thực hiện các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 146 Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với tổ chức tín dụng là quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính trên địa bàn.
4. Hình thức kiểm soát đặc biệt là gì?
Điều 7 Thông tư 11/2019/TT-NHNN quy định về hình thức kiểm soát đặc biệt. Theo đó có 2 hình thức kiểm soát đặc biệt là:kiểm soát dưới hình thức giám sát đặc biệt và kiểm soát toàn diện.
Giám sát đặc biệt là việc đặt tổ chức tín dụng dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước thông qua hoạt động chỉ đạo, kiểm soát trực tiếp từ xa, kiểm tra tại chỗ của Ban kiểm soát đặc biệt đối với hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.
Kiểm soát toàn diện là việc đặt tổ chức tín dụng dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước thông qua hoạt động chỉ đạo, kiểm soát trực tiếp tại chỗ của Ban kiểm soát đặc biệt đối với hoạt động hằng ngày của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.
Việc thay đổi hình thức kiểm soát đặc biệt thực hiện như sau:
+ Căn cứ vào thực trạng, mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, Ban kiểm soát đặc biệt kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) thay đổi hình thức kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư này hoặc kiến nghị Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thay đổi hình thức kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư này;
+ Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ban kiểm soát đặc biệt quy định tại điểm a khoản này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hoặc Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh xem xét, quyết định thay đổi hình thức kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt theo thẩm quyền quy định tại Điều 6 Thông tư này.
5. Nội dung của quyết định kiểm soát đặc biệt
Căn cứ quy định tại Điều 8 Thông tư số 11/2019/TT-NHNN thì quyết định kiểm soát đặc biệt bao gồm các nội dung sau đây:
1. Tên tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.
2. Lý do đặt tổ chức tín dụng vào kiểm soát đặc biệt.
3. Thời hạn kiểm soát đặc biệt.
4. Hình thức kiểm soát đặc biệt, nội dung, phạm vi, biện pháp, công việc kiểm soát hoạt động đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.
5. Họ, tên, chức danh từng thành viên Ban kiểm soát đặc biệt, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm soát đặc biệt, Trưởng Ban kiểm soát đặc biệt và các thành viên khác của Ban kiểm soát đặc biệt.
6. Việc sử dụng con dấu của Ngân hàng Nhà nước, bao gồm cả con dấu của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh.
7. Việc chuyển khoản cho vay tái cấp vốn thành khoản cho vay đặc biệt.
8. Nội dung khác.
6. Thông báo về kiểm soát đặc biệt như thế nào?
Tại Điều 9 Thông tư 11/2019/TT-NHNN quy định cụ thể về việc thông báo về kiểm soát đặc biệt.
Bước 1: Lập Thông báo về kiểm soát đặc biệt với nội dung:
- Quyết định kiểm soát đặc biệt;
- Thay đổi hình thức kiểm soát đặc biệt;
- Gia hạn, chấm dứt kiểm soát đặc biệt;
- Văn bản của cấp có thẩm quyền phê duyệt Phương án cơ cấu lại;
- Nội dung khác.
Bước 2: Gửi thông báo về kiểm soát đặc biệt
+ Trường hợp áp dụng kiểm soát đặc biệt theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN thì Ngân hàng Nhà nước gửi thông báo về kiểm soát đặc biệt tới một hoặc một số đối tượng sau đây:
- Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt;
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh nơi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đặt trụ sở chính, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh nơi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có đơn vị phụ thuộc đang hoạt động;
- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam;
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đặt trụ sở chính;
- Bộ Tài chính (trong trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt là công ty niêm yết, công ty đăng ký giao dịch, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, công ty con, công ty liên kết của doanh nghiệp bảo hiểm, tập đoàn tài chính bảo hiểm; tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có công ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm);
- Các cơ quan và tổ chức khác liên quan.
+ Trường hợp áp dụng kiểm soát đặc biệt theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư 11/2019/TT-NHNN thì Ngân hàng Nhà nước gửi thông báo về kiểm soát đặc biệt tới một hoặc một số đối tượng sau đây:
- Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt;
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam;
- Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam;
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã nơi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đặt trụ sở chính;
- Các cơ quan và tổ chức khác liên quan.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định cụ thể phạm vi, nội dung, đối tượng nhận thông báo về kiểm soát đặc biệt quy định tại khoản 1, 2 Điều này và thời điểm thông báo về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư này.
Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh quyết định cụ thể phạm vi, nội dung, đối tượng nhận thông báo về kiểm soát đặc biệt quy định tại khoản 1, 3 Điều này và thời điểm thông báo về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư này.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Kiểm soát đặc biệt đối với ngân hàng yếu kém là gì? Trường hợp nào áp dụng kiểm soát đặc biệt và trình tự thực hiện kiểm soát đặc biệt".
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.