1. Kiểm soát đặc biệt là gì?

Kiểm soát là một thuật ngữ không còn quá nhiều xa lạ trong cuộc sống hiện nay, theo đó thì đây được hiểu là quá trình hoặc là hành động duy trì và giám sát một tình huống hoặc là hệ thống nhằm đảm bảo rằng nó diễn ra theo kế hoạch hoặc đạt được mục tiêu nhất định. Theo đó thì quá trình kiểm soát liên quan đến việc là xác định, đánh giá và thực hiện là điều chỉnh các hoạt động và quá trình tổ chức hoặc hệ thống một vấn đề nào đó theo quy định của pháp luật đưa ra. Từ đó thì tùy thuộc vào ngữ cảnh khác nhau, ngành nghề khác nhau mà kiểm soát thì có thể là áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau. 

Cũng theo đó thì kiểm soát đặc biệt cũng là một hoạt động được quy định ra nhằm quản lý một hoạt động nào đó. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017 thì có quy định về khái niệm kiểm soát đặc biệt thì cụ thể có được quy định như sau:

Kiểm soát đặc biệt là việc mà đặt một tổ chức tín dụng dưới sự kiểm soát trực tiếp của ngân hàng nhà nước theo như quy định tại Mục 1 chương VIII cuả luật các tổ chức tín dụng. Ngân hàng là một trong các tổ chức tín dụng do vậy mà ngân hàng cũng thuộc đối tượng có thể bị kiểm soát đặc biệt theo quy định của pháp luật đưa ra. 

Việc thực hiện kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng là một việc làm vô cùng cần thiết theo quy định của pháp luật có đưa ra. Nhằm kiểm soát hoạt động của tổ chức tín dụng một cách hiệu quả và tốt nhất có thể theo quy định tránh những tình trạng sai phạm trong quá trình hoạt động của các tổ chức tín dụng. 

2. Trường hợp nào mà ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt

Hiện nay thì theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 27 Điều 1 của Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017 thì cũng đưa ra các quy định cụ thể về những trường hợp mà ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt. Cụ thể thì các bạn có thể tiến hành theo dõi thêm nội dung sau:

Tổ chức tín dụng được xem xét đặt vào kiểm soát đặc biệt khi mà lâm vào một trong các trường hợp như sau:

- Tổ chức tín dụng được xem xét đặt vào kiểm soát đặc biệt khi rơi vào tình trạng là mất, có nguy cơ là mất khả năng chi trả hoặc là mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của ngân hàng nhà nước

+ Có nguy cơ mất khả năng chi trả là khi ngân hàng thiếu hụt tài sản có tính thanh khoản cao ở mức 20% trở lên tại thời điểm tính toán tỷ lệ khả năng chi trả dẫn đến không duy trì được tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 130 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung 2017, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian 03 tháng liên tục.

+ Mất khả năng chi trả: Nếu như hiểu theo một cách đơn thuần mà trước giờ chúng ta hay nhìn nhận và hay nghĩ khi nhắc đến cụm từ là mất khả năng chi trả thì thường chúng ra hay hiểu mất khả năng chi trả là tình trạng mà một cá nhân hay một tổ chức không có đủ khả năng chi trả các khoản nợ hoặc là các khoản phải trả theo đúng thời hạn được quy định. Vậy thì mất khả năng chi trả của ngân hàng tức là khi ngân hàng không có khả năng thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 01 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và có tỷ lệ giữa tổng nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, nợ cơ cấu tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được so với tổng nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được ở mức 10% trở lên tại thời điểm liền sau 01 tháng kể từ ngày nghĩa vụ nợ đến hạn thanh toán.

+ Có nguy cơ mất khả năng thanh toán: Có nguy cơ mất khả năng thanh toán thì được hiểu là ngân hàng đang có tỷ lệ an toàn vốn thấp. Ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thoán chính là khi ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 thấp hơn 4% trong thời gian 06 tháng liên tục và có tỷ lệ giữa tổng nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, nợ cơ cấu tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được so với tổng nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản chưa xử lý được ở mức 10% trở lên tại thời điểm liền sau 06 tháng liên tục mà tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 của tổ chức tín dụng thấp hơn 4%.

+ Mất khả năng thanh toán: Như chúng ta đã biết thì mất khả năng thanh toán chính là trường hợp mà tổ chức cá nhân, doanh nghiệp không còn khả năng chi trả hoặc là thanh toán các khoản nợ, tiền lương hoặc các khoản phải trả khác theo hợp đồng hoặc cam kết tài chính. Đối với ngân hàng thì mất khả năng thanh toán là khi ngân hàng không có khả năng thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 03 tháng kể từ ngày nghĩa vụ nợ đến hạn thanh toán.

- Trường hợp thứ hai đó là số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng là lớn hơn 50% giá trị của vón điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất. 

- Trường hợp thứ ba đó là không có thực hiện duy trì được tỷ lệ an toàn vốn được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 130 của Luật các tổ chức tín dụng trong thời gian là 12 tháng liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn 4% trong thời gian 06 tháng liên tục theo quy định của pháp luật. 

- Trường hợp cuối là xếp hạng yếu kém trong 02 năm liên tục theo quy định của ngân hàng nhà nước đưa ra. 

Theo quy định trên thì có quy định về mất khả năng chi trả hoặc là mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Theo đó thì đối với trường hợp này thì khi có nguy cơ mất khả năng chi trả, nguy cơ mất khả năng thanh toán thì tổ chức tín dụng thì có nghĩa vụ là phải kịp thời báo cáo ngân hàng nhà nước về thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp đã áp dụng, các biện pháp dự kiến áp dụng để khắc phụ và các đề xuất, kiến nghị với ngân hàng nhà nước. 

Và theo quy định của pháp luật hiện nay có đưa ra thì khi mà ngân hàng nhà nước đang áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt mà sáp nhật vào một ngân hàng khác thì ngân hàng đó sẽ được chấm dứt kiểm soát đặc biệt theo quy định. Như vậy thì việc chấm dứt kiểm soát đặc biệt là hoàn toàn có thể chấm dứt theo quy định. 

3. Cơ quan có thẩm quyền đặt ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt

Kiểm soát đặc biệt là một hoạt động đang dần trở nên phổ biến hơn và có lẽ các bạn cũng đã nắm rõ những trường hợp mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành đặt ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt theo quy định của pháp luật đưa ra. Để có thể giải quyết những vướng mắc có liên quan về cơ quan nào có thẩm quyền đặt ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt tại khoản 27 Điều 1 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017

Theo đó thì ngân hàng nhà nước xem xét, quyết định đặt tổ chức tín dụng thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Luật tổ chức tín dụng vào kiểm soát đặc biệt và thành lập ban kiểm soát đặc biệt để kiểm soát hoạt động của tổ chức tín dụng đó. 

Như vậy thì ngân hàng nhà nước chính là cơ quan có thẩm quyền đặt ngân hàng vào kiểm soát đặc biệt theo quy định của pháp luật. 

Tham khảo: Kiểm soát đặc biệt đối với ngân hàng yếu kém là gì? Trình tự và thủ tục thực hiện kiểm soát đặc biệt là gì? 

Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ.