1. Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương (MUTUAL SAVINGS BANK) được hiểu là như thế nào?
Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương (MUTUAL SAVINGS BANK - MSB) là định chế tiết kiệm phi cổ phiếu được cấp phép tiều bang nhận tiền gửi từ các cá nhân và thực hiện những khoản vay cầm cố nhà ở. Giới quản lý là một ủy ban nhận tín thác. Những định chế tiết kiệm này đưa ra những dịch vụ tài khoản séc và các tài khoản giao dịch khác, và cũng có thể khởi phát các khoản vay tiêu dùng, khoản vay thương mại và cầm cố thương mại, và đầu tư số lượng giới hạn các trái phiếu và cổ phiếu công ty. Các bộ phận của ngân hàng tiểu bang là những cơ quan điều tiết chủ yếu của các định chế tiết kiệm hỗ tương.
Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ là một loại tổ chức tiết kiệm ban đầu được thiết kế để phục vụ các cá nhân có thu nhập thấp. Trong lịch sử, ngân hàng loại này đầu tư vào tài sản dài hạn, cố định, chẳng hạn như tài sản thế chấp. Được khởi xướng vào năm 1816, các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ đầu tiên (MSBs) là Hiệp hội tiết kiệm Philadelphia và Viện thể chế tiết kiệm Boston. Hầu hết các MSB đều có địa điểm chính ở vùng Trung Đại Tây Dương và các khu vực Đông Bắc công nghiệp của Hoa Kỳ. Đến năm 1910, đã có 637 tổ chức như thế này.
MSB thường rất thành công cho đến những năm 1970. Trong những năm 1980, các quy định quản lý những gì MSB có thể đầu tư, cùng với mức lãi suất họ có thể trả cho khách hàng, kết hợp với lãi suất tăng, đã khiến MSB bị thua lỗ lớn. Do đó, nhiều MSB đã thất bại trong những năm 1980; một số khác sáp nhập trở thành ngân hàng thương mại hay chuyển đổi sang hình thức cổ phiếu.
MSB thường đầu tư vào các khoản thế chấp. Các cá nhân và doanh nghiệp sẽ sử dụng thế chấp để mua bất động sản lớn mà không cần thanh toán toàn bộ giá trị trả trước. Có tồn tại các khoản thế chấp có lãi suất cố định (còn được gọi là thế chấp “truyền thống”). Các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh (ARM) vẫn tồn tại. Mặc dù một khoản thế chấp thường là một hợp đồng giữa người đi vay và người cho vay, các khoản thế chấp có thể được gộp lại với nhau và có sẵn để đầu tư bởi các bên bên ngoài.
2. Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương có đặc điểm như thế nào?
Ngân hàng tiết kiệm là ngân hàng được thành lập với mục đích huy động các khoản tiền tiết kiệm của cá nhân trong xã hội. Chủ nhân của các ngân hàng tiết kiệm cũng chính là những người gửi tiền tiết kiệm.
Khởi đầu có một nhóm người đứng ra khởi xướng thành lập ngân hàng. Sau khi tạm đủ số người hưởng ứng, họ họp đại hội cổ đông, soạn thảo ra điều lệ hoạt động và xin giấy phép thành lập. Những cổ đông này hầu hết là người bỏ những khoản tiền tiết kiệm đầu tiên vào để tạo thành vốn hoạt động của ngân hàng.
Kể từ đó về sau, mỗi khi có thêm khoản tiền tiết kiệm mới, họ lại tiếp tục gửi vào ngân hàng và khi cần có tiền để kinh doanh hoặc tiêu dùng, họ lại đi vay từ chính ngân hàng đó. Có một điều cần chú ý là ngân hàng không mở rộng thêm cổ đông, do đó những người tham gia gửi tiền tiết kiệm sau này sẽ là khách hàng chứ không phải là chủ nhân.
Hàng năm lợi tức của ngân hàng nếu không nhập vào tài sản của ngân hàng thì sẽ được chia cho những người gửi tiết kiệm và sáng lập ra ngân hàng.
Đặc điểm của ngân hàng tiết kiệm như sau:
Phương thức hoạt động
Phương thức hoạt động của ngân hàng tiết kiệm mang tính tương trợ là chủ yếu, chứ không như ngân hàng thương mại là nhằm mục đích kinh doanh là chính.
Vốn hoạt động
Vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng tiết kiệm là từ tiền gửi tiết kiệm của dân chúng hoặc là vốn đóng góp của các nhà hảo tâm với tính chất hỗ trợ người ngheo là chính hơn là đóng góp để kiếm lời.
Vốn huy động
Loại ngân hàng này không phát hành các công cụ nợ để vay vốn của công chúng và cũng hầu như không vay của các tổ chức nước ngoài hay Ngân hàng Trung ương, trừ trường hợp đặc biệt thiếu tiền mặt.
Hoạt động cho vay
Do tính chất đặc biệt của vốn huy động, các ngân hàng tiết kiệm cho vay rất thận trọng. Tiêu chuẩn hàng đầu trong vấn đề cho vay là sự an toàn. Tiêu chuẩn hàng đầu trong vấn đề cho vay chủ yếu là các khoản vay cầm cố, thế chấp bằng nhà cửa, tài sản hoặc chứng khoán.
Tiếp đó là đầu tư vào chứng khoán hoặc cho các ngân hàng thương mại khác vay. Nhìn chung những người được vay tiền tại các ngân hàng nàu cũng chính là những người đã gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Lãi suất cho vay thường là rất thấp vì nó mang tính chất tương trợ nhiều hơn là kinh doanh.
3. Nhiệm vụ chính của ngân hàng tiết kiệm hỗ tương
- Tiền gửi của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (MSB) được bảo hiểm bởi Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC).
- Các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ cho phép khách hàng duy trì tài khoản với số dư thấp trong khi vẫn nhận được tiền lãi. Nếu bạn mở tài khoản với ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, bạn được coi là “chủ sở hữu” trong ngân hàng, vì ngân hàng tiết kiệm tương hỗ không có cổ đông bên ngoài như ngân hàng truyền thống.
- Được khởi xướng vào năm 1816, các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (MSB) đầu tiên là Hiệp hội tiết kiệm Philadelphia và Viện tiết kiệm tiết kiệm Boston.
- Những cá nhân hảo tâm đầu tiên ở Philadelphia đã thành lập ngân hàng tiết kiệm tương hỗ đầu tiên cũng đã thành lập các bệnh viện, trại trẻ mồ côi và nhà tạm trú đầu tiên trên bờ biển phía đông của Hoa Kỳ.
- Có một số lợi thế của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ bao gồm dịch vụ khách hàng thân thiện, cách tiếp cận dài hạn, ổn định tài chính, an toàn cho người gửi tiền, tăng khả năng tiếp cận và thực tế là lợi nhuận (dưới hình thức này hay hình thức khác) được tái đầu tư vào cộng đồng.
- Các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ cũng có một số nhược điểm bao gồm đôi khi quá bảo thủ, không có quyền kiểm soát của thành viên và có khả năng bị mua lại hoặc phát hành cổ phiếu ra công chúng.
Trong khi các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ hoạt động để tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông thành viên của họ, thì các hiệp hội tín dụng hoạt động như các tổ chức phi lợi nhuận, được thiết kế để phục vụ các thành viên của họ, những người cũng là chủ sở hữu trên thực tế.
4. Thực trạng ngân hàng tiết kiệm hiện nay như thế nào?
Ở Mỹ ngân hàng tiết kiệm tồn tại dưới hình thức các ngân hàng tiết kiệm tương trợ (Mutual savings bank). Các ngân hàng tiết kiệm tương trợ này thu hút tiền vốn bằng cách nhận tiền gửi và dùng chúng trước hết để cho vay thế chấp. Những người gửi tiền đồng thời là chủ sở hữu của các ngân hàng này.
Trước năm 1980, các ngân hàng này bị hạn chế ở các khoản cho vay bất động sản, nhưng ngày nay họ đã được phép phát hành các tài khoản tiền gửi có thể phát séc dưới dạng các tài khoản NOW hay Super NOW và thực hiện các khoản cho vay khác ngoài cho vay bất động sản như cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất nông nghiệp, cũng như cung cấp các dịch vụ như tín thác, phát hành thẻ tín dụng.
Ở Việt Nam không có ngân hàng tiết kiệm riêng biệt, hầu như tất cả các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đều có bộ phận quĩ tiết kiệm để huy động vốn nhàn rỗi trong cư dân nhằm hình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại.
Quý bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau của Luật Minh Khuê: Đáo hạn ngân hàng là gì? Phân biệt đáo hạn và đảo nợ, Huy động vốn là gì? Các ngân hàng thương mại huy động vốn như thế nào?
Trên đây là tư vấn của luật Minh Khuê về vấn đề "Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương (mutual savings bank) là gì ?" Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.