Tuy vậy, toà án chỉ chấp nhận người được nhờ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Người tham gia tố tụng này đựợc gọi là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

1. Khái niệm về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định được đương sự yêu cầu (nhờ) tham gia tố tụng để bảo vệ qụyền, lợi ích hợp pháp của họ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng từ khi đương sự nhờ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của họ và được toà án chấp nhận. Tuy cùng tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự nhưng việc tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khác với người đại diện của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, không bị ràng buộc bởi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự như người đại diện. Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chủ yếu bằng việc hỗ trợ, giúp đỡ đương sự về nhận thức pháp luật và bằng việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.

Khi tham gia tố tụng dân sự, một người bậo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền, lợi ích hợp pháp của cạc đương sự đó không đối lập nhau. Ngược lại, nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng Có thể cùng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho một dượng sự trong vụ án (khoản 3 Điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Việc tham gia tố tụng vào vụ việc dân sự của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không những có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòà án mà còn có ý nghĩa cả đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án. Vì vậy, khoản 2 và khoản 3 Điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định hai điều kiện cơ bản để một người trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Thứ nhất, là luật sư, trợ giúp viên pháp lí, người tham gia trợ giúp pháp lí, đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động và công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị ấp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan toà án, viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ qủan trong ngành công an.

Thứ hai, trường họp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án, thì quyền và lợi ích hợp pháp của những đương sự được bảo vệ đó không được đối lập nhau.

Ngoài ra, để tham gia tố tụng dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự còn phải làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cửa đương sự với toà án. Khi đãng ký, ngườỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải xuất trình cho toà án các giấy tờ, tài liệu như đối vởi luật sư thì phải xuất trình xuất trình thẻ luật sư và giấy yêu cầu luật sư của khách hàng; đối với trợ giúp viên pháp lí, người tham gia trợ giúp pháp lí thì phải xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư; đối với đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động xuất trình văn bản của tổ chức đó cử mình tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, tập thể người lao động; đối với công dân Việt Nam tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự thì phải xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tụỳ thân (khoản 4 Điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng theo yêu cầu của đương sự nên việc thay đổi, chấm dứt việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự của họ do hai bên quyết định. Ngoài ra, trong trường họp người bậo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc trong trường họp đương sự là cá nhân chết, đương sự là tổ chức chấm dứt hoạt động thì việc bảo vệ quyền, ích lợi hợp pháp cho đương sự của họ cũng đương nhiên chấm dứt.

2. Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng một cách độc lập. Như các chủ thể tố tụng khác, họ cũng có các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Các quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bao gồm: quyền và nghĩa vụ tham gia vào các giai đoạn của quá trình tố tụng theo quy định của pháp luật; xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho toà án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có ttong hồ sơ vụ việc dân sự; tham dự việc hoà giải vụ án dân sự, tham gia phiên toà dân sự; trực tiếp tham giạ ttanh luận tại phiên toà hoặc có văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; giúp đương sự về mặt pháp luật liền quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; tôn trọng toà án, thực hiện các yêu cầu và chấp hành các quyết định của toà án; phải có mặt theo giấy triệu tập của toà án; chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.

Các quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyện và lợi ích hợp pháp của đương sự và việc tham gia tố tụng của họ hiện nay đã được quy định tại các điều 76, 210, 248, 260 ... Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nhìn chung các điều luật này đã quy định được tương đối cụ thể, phù hợp. Tuy nhiên, các quy định đó vẫn chưa thể hiện rõ được bản chất tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê