1. Người bắt cóc bé trai ở Hà Nội tống tiền 15 tỷ có bị tù chung thân
Mới đây thì vụ bắt cóc tống tiền ở Hà Nội đã làm hoang mang dư luận khi đối tượng bắt cóc đã bắt cóc bé trai và tống tiền người nhà bé này với số tiền lên đến 15 tỷ đồng. Trong vụ việc này, mặc dù tên bắt cóc chưa chiếm đoạt được số tiền như mong muốn là 15 tỷ đồng nhưng hắn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự liên quan đến số tiền mà kẻ này đã đưa ra làm cơ sở xác định tính chất vụ việc và làm cơ sở để tòa án lựa chọn loại hình phạt cho phù hợp với tính chất của hành vi phạm tội.
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt.
Người thực hiện hành vi phạm tội này thì được thể hiện ở việc bắt và giữ người trái pháp luật. Thông thường hành vi bắt người làm con tin được thực hiện một các lén lút và đưa người bị bắt đến một nơi nào đó rồi tìm cách thông báo cho người thân của người bị bắt cóc biết, cùng với yêu cầu người thân của họ phải nộp một số tiền thì mới thả người bị bắt cóc, nếu không nộp tiền hoặc tài sản thì người bị bắt cóc sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm... Điều này làm uy hiếp đến người nhà nạn nhân cần nhanh chóng phải chuyển giao tài sản cho những đối tượng này.
Hành vi bắt người trái pháp luật được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác như cho uống thuốc ngủ, thuốc mê, xịt Ether (ête), lừa dối... để bắt được người làm con tin.
Tuy nhiên thì có một lưu ý nhỏ rằng đó là việc bắt giữ người trái phép ở đây không thuộc những trường hợp bắt giữ người, tạm giữ, tạm giam người theo quy định của pháp luật. Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi bắt cóc con tin và đe dọa đòi người khác phải đưa tài sản.
Từ đó nhìn nhận theo vấn đề của vụ bắt cóc bé trai ở Hà Nội và đòi với số tiền lên đến 15 tỷ thì căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 169 Bộ luật Hình sự 2015 thì có quy định về hành vi bắt cóc chiếm đoạt tài sản mà chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên thì sẽ bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Như vậy thì đối với hành vi bắt cóc và tống tiền lên đến 15 tỷ đồng thì mức tiền mà đối tượng yêu cầu người nhà chuẩn bị còn vượt xa so với mức tiền theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015. Về vụ việc này thì cần phải phụ thuộc vào kết luận điều tra của phía bên cơ quan công an để vào xác minh làm việc việc và đưa ra kết luận chính xác nhất có thể.
2. Dấu hiệu pháp lý của tội bắt cóc chiếm đoạt tài sản.
Chiếm đoạt tài sản chính là hành vi mà cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác vào phạm vi sở hữu của mình. Cá nhân thực hiện hành vi này thì có thể dùng nhiều hành vi thủ đoạn khác nhau để có thể chiếm đoạt được tài sản đó. Chiếm đoạt chính là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất hẳn tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó ( tức là có khả năng thực hiện việc chiếm hữu, việc sử dụng và việc định đoạt tài sản). Đối tượng của hành vi này chỉ có thể là tài sản còn trong sự chiếm hữu và quản lý của chủ tài sản. Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt hành vi chiếm đoạt với hành vi chiếm giữ tài sản trái phép.
- Về khách thể của tội phạm: Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân và quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do của con người. Đối tượng tác động của tội phạm chính là tài sản và con người.
- Mặt khách quan của tội phạm: Thể hiện ở việc bắt giữ và người trái phấp luật. Theo đó thì các đối tượng phạm tội sẽ thực hiện hành vi là bắt cóc con tin được thực hiện một cách lén lút và đưa người bắt đến một nơi nào đó rồi tìm cách để thông báo cho người thân của người bị bắt cóc biết. Sau đó thì đối tượng phạm tội này sẽ yêu cầu người nhà của nạn nhân phải giao một số tiền nào đó thì mới thả người bị bắt cóc.
- Chủ thể tội phạm: Ở tại khung 1 thì chủ thể là người đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự và trong các trường hợp phạm tội còn lại từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự
- Mặt chủ quan: Thực hiện lỗi cố ý.
3. Mức phạt đối với hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Căn cứ theo Điều 169 Bộ Luật Hình sự 2015 thì người nào mà bắt cóc người khác nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
Bên cạnh đó thì người thực hiện hành vi phạm tội còn có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm nếu như mà phạm tội bắt cóc chiếm đoạt tài sản nhưng mà có một trong các dấu hiệu như sau:
- Có tổ chức
- Có tính chất chuyên nghiệp
- Dùng vũ khí, phương tiện hoặc là dùng thủ đoạn nguy hiểm khác
- Đối với người dưới 16 tổi. Người dưới 16 tuổi có thể là công dân Việt Nam hay người nước ngoài. Người phạm tội bị áp dụng tình tiết này không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được người bị phạm tội là người dưới 16 tuổi hay không
- Đối với 02 người trở lên. Đây là trường hợp phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: bắt cóc từ 02 người trở lên nhằm chiếm đoạt tài sản của một người; bắt cóc một người nhằm chiếm đoạt tài sản của từ 02 người trở lên. Trường hợp bắt cóc nhiều người (trong đó có một người hoặc tất cả là người dưới 16 tuổi) hoặc bắt có một người nhằm chiếm đoạt tài sản của nhiều người (trong đó có một người hoặc tất cả là người dưới 16 tuổi), thì áp dụng cả hai tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại các Điểm d (phạm tội đối với người dưới 16 tuổi) và Điểm đ (phạm tội đối với 02 người trở lên) Khoản 2 Điều 169 để truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Chiếm đoạt tài sản mà giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Có thể hiểu rằng đây là số tiền mà người phạm tội có mục đích chiếm đoạt khi thực hiện hành vi bắt cóc và chỉ cần người thực hiện hành vi phạm tội có mục đích chiếm đoạt thì sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật chứ không cần phải xem xét đến thực tế chiếm đoạt được hay chưa.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tim mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%. Theo đó tì trong trường hợp này tức là người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhằm là chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, gây thương tích cho người bị hại và người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội xâm phạm sức khỏe của người khác. Tuy nhiên thì nếu như mà người thực hiện bắt cóc chiếm đoạt tài sản nhưng lại thực hiện hành vi giết người thì sẽ bị truy cứu về tội xâm phạm tính mạng của người khác.
- Gây rối loại tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tư, an toàn xã hội. Tức là hành vi phạm tội này thì sẽ có tác động lớn đến an ninh trật tự và an toàn xã hội bởi đây là hành vi phạm tội nguy hiểm và các đối tượng thực hiện một cách nhanh chóng và có thể là để lại những hậu quả nặng nề nguy hiểm
- Tái phạm nguy hiểm. Tái phạm nguy hiểm khác với tái phạm. Tái phạm nguy hiểm là một dạng đặc biệt của tái phạm theo đó thì nếu như mà một người nào đó mà đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng trước đó do lỗi cố ý nhưng mà chưa được xóa án tích thì nay lại phạm tội mới cũng là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng thì được coi là tái phạm nguy hiểm...
Ngoài ra thì người phạm tội thì có thể bị xử phạt từ 10 năm đến 18 năm. Theo đó thì người phạm tội mà thuộc vào một trong các trường hợp như là chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc là gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và cơ hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với các hành vi như là chiếm đoạt giá trị tài sản 500.000.000 đồng trở lên hoặc làm chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61%
Tham khảo thêm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất năm 2023 hoặc Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc liên hệ qua địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ