1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi như thế nào?
Hành vi lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật. Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt. Chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật đối với tài sản đang thuộc quản lý của người khác vào phạm vi sở hữu của mình. Bên cạnh đó, tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Như vậy, có thể hiểu lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối do một người thực hiện nhằm mục đích dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá, ... đang thuộc sở hữu, quản lý của người khác vào phạm vi sở hữu của mình. Do vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể, mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.
2. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi nào?
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hình thức vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện do cố ý, với mục đích muốn chiếm đoạt được tài sản.
Hành vi này thường xảy ra trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, công ty, hoặc các tổ chức, đơn vị có quyền quản lý và sử dụng tài sản của người khác. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tương ứng. Hình phạt và trách nhiệm hình sự cụ thể sẽ phụ thuộc vào quy định của từng quốc gia và luật pháp áp dụng.
Trên thực tế hiện nay một người sau khi vay, mượn, thuê tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn, nhưng để chứng minh họ có bỏ trốn, nhằm chiếm đoạt tài sản hay không là vấn đề còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
3. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tội và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) thì dấu hiệu dễ bị nhầm lẫn là thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Cả hai tội này đều có dấu hiệu chung là người phạm tội phải có hành vi “chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là chiếm đoạt thì rất phức tạp. Hiện nay có tình trạng vay, mượn hoặc có những hợp đồng vay với số tiền rất lớn nhưng mỗi nơi xử lý một cách khác nhau. Có nơi coi đó chỉ là quan hệ dân sự hoặc quan hệ kinh tế, có nơi truy tố về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, có nơi truy tố về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về lý luận, chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt. Hành vi cố ý chiếm giữ tài sản của người khác với mục đích chuyển quyền sở hữu về tài sản từ của người khác sang của mình. Chỉ khi nào xác định có chiếm đoạt thì lúc đó mới là tội phạm. Nếu đã xác định có chiếm đoạt tài sản thì việc phân biệt giữa hai tội phạm này chính là thủ đoạn gian dối có trước hay sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản của người khác.
Dưới đây sẽ cung cấp khách hàng về sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tái sản:
| Tiêu chí | Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản |
| Cơ sở pháp lý | Căn cứ theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 | Căn cứ theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 |
| Về hành vi | Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Luôn phải có hành vi gian dối, hành vi này phải thực hiện trước thời điểm chuyển giao tài sản. Đối tượng của tội phạm này là tài sản bị chiếm đoạt do người khác quản lý, có thể là tài sản của Nhà nước | Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Có thể có hoặc không có hành vi gian dối. Nếu như có hành vi gian dối thì hành vi này luôn phải thực hiện sau thời điểm chuyển giao tài sản. Đối tượng của tội phạm này là tài sản bị chiếm đoạt do chính người phạm tội quản lý. |
| Về tính chất chiếm đoạt | Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. | Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Xuất hiện sau khi có giao dịch hợp pháp, tức là sau khi có được tài sản người phạm tội mới nảy sinh ý định và hành vi chiếm đoạt. |
| Về hình thức phạm tội | Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản như đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. | Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng: - Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; - Đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. |
| Về giá trị tài sản để định tội | Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: - Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; - Hoặc giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự hiện hành bao gồm: + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; + Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; + Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; + Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. | Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: - Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 04 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; - Hoặc giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 04 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định tại khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bao gồm: + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt + Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; + Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại. |
| Về mức hình phạt được áp dụng | Đối với tội lừa đảo chiểm đoạt thì các khung hình phạt được quy định gồm: - Khung hình phạt cơ bản: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. - Mức phạt tối đa: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. | Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì các khung hình phạt sẽ bao gồm: - Khung hình phạt cơ bản: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm - Mức phạt tối đa: thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. |
Tham khảo thêm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất năm 2023. Qúy khách vui lòng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số tổng đài: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.