1. Mức phạt người chưa đủ 18 tuổi giết người ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam thì người chưa đủ 18 tuổi có hành vi giết người thì phải chịu án như thế nào? Nếu gia đình người bị hại không chấp nhận bản án mà toà án đưa ra và đã kháng án thì thời gian giải quyết trong bao lâu?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời :

Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

........

Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành thì người chưa đủ 18 tuổi có hành vi cố ý giết người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì dữ kiện đưa ra không đầy đủ nên chúng tôi không thể tư vấn được hành vi của con bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản nào của Điều 123 Bộ luật Hình sự. Việc truy cứu TNHS và mức án chịu như thế nào sẽ do Toà án quyết định, tuy nhiên, Bộ luật hình sự ngoài quy định mang tính chấp trừng trị còn có quy định mang tính chất nhân đạo do vậy khi xem xét và đưa ra quyết định thì sẽ áp dụng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội .

Trường hợp có kháng cáo thì thời gian xét xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 242 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Thời gian chờ xét xử phúc thẩm vẫn được tính vào thời gian thụ án.

Vấn đề đưa ra của bạn được giải quyết như sau:

Thứ nhất: Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”

Do đó, người chưa đủ 18 tuổi mà có hành vi cố ý giết người thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này theo quy định tại Điều 90 và khoản 2 Điều 91 về Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Điều 90. Áp dụng Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.

Điều 91. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;

b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;

c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”.


Thứ 2: Nếu gia đình người bị hại không chấp nhận bản án và đã kháng án thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu quá thời hạn 15 ngày mà có lý do chính đáng thì bạn vẫn có thể kháng cáo – trường hợp này là kháng cáo quá hạn. Vấn đề này được quy định rõ tại hoản 1 Điều 333; Điều 335 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Thứ ba: Thời hạn xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 346 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.

......

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

2. Say rượu giết vợ sẽ bị xử phạt như thế nào ?

Ngày người đàn ông vũ phu nhận án vì tội giết vợ cũng là ngày cậu con trai cả của ông làm lễ 100 ngày mẹ mất. Cha ở tù chung thân, mẹ chết gia đình này chỉ còn 3 đứa trẻ đang tuổi đi học phải vất vả xoay sở kiếm sống.

Sau hơn 3 tháng bị bắt tạm giam, gia đình không ai thăm nuôi, Nguyễn Công Hùng (44 tuổi, ở Đô Lương, Nghệ An) bước vào phòng xử án của TAND tỉnh Nghệ An trong ánh mặt căm giận của họ hàng hai bên gia đình.

Lúc này, bà con cô bác nội ngoại cũng lần lượt chia đôi sang ngồi ở hai dãy ghế: Một phía là người nhà của bị hại và bên kia là người nhà của bị cáo.

Cách đây 25 năm, Nguyễn Công Hùng và chị Nhâm thành vợ thành chồng trong niềm vui hai gia đình nội ngoại. Thế nhưng hai tháng sau ngày cưới, Hùng lộ rõ là người ham rượu và vũ phu.

Khi say anh ta lôi vợ ra hành hạ. Lúc tỉnh rượu lại ăn nỉ chị Nhâm tha thứ. "Điệp khúc" ấy kéo dài gần 2 năm. Sau khi vợ sinh đứa con trai đầu lòng thì Hùng có vẻ tu chí làm ăn, giảm bớt nhậu nhẹt. Lần lượt 2 đứa con nữa ra đời, một trai một gái. Thế nhưng sau khi con cái đuề huề, Hùng lại sinh thói cũ, uống rượu và đánh vợ.

Có những lần không biết kiếm đâu ra tiền để trả nợ cho chồng, người vợ phải về nhà ngoại để vay các chị. Thương em bị chồng đánh, những người chị nhiều lần cho tiền và khuyên viết đơn ly dị nhưng chị Nhâm lần lữa không dám quyết định.

Năm 1993, sau một trận rượu say bí tỉ ngoài quán, Hùng về nhà đòi tiền vợ. Đòi hỏi không được đáp ứng, ông ta đã đánh vợ bắt đưa tiền. Sau một hồi chửi bới, Hùng chạy đi ôm rơm, châm lửa đốt nhà. Trời mùa hạ, gió Lào thổi mạnh, ngọn lửa bốc cao, trong chốc lát, ngôi nhà tranh bị thiêu rụi hoàn toàn.

Hùng bị dân làng bắt giải lên xã. Lần này, được chính quyền xã giáo dục, người chồng có vẻ tu chí trở lại. Ông ta một mình vào rừng chặt gỗ, xin dân làng từng cây tre để dựng lại ngôi nhà tranh, rồi sang xin lỗi vợ con và gia đình bên ngoại.

Tu tỉnh được gần một năm, Hùng lại chứng nào tật ấy. Không những hành hạ vợ, mà Hùng còn đập con. Rất nhiều lần, 3 đứa con của Hùng bị cha đánh thừa sống thiếu chết. Sau những lần ấy, cả mấy mẹ con đều bất lực và hoảng sợ.

Mỗi lần bị đánh, họ đều cố kêu la thật to để hàng xóm chạy đến cứu… Những đứa con cũng nhiều lần khuyên mẹ nên ly hôn để bố tự "kiểm điểm bản thân".

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Vào ngày định mệnh, 29/10/2009, sau bữa cơm khi 3 con đến trường, Hùng và vợ vào hai phòng khác nhau để nghỉ trưa. Một lúc sau, Hùng chạy sang buồng ngủ của vợ quỳ xuống xin vợ đừng ly dị. Ông ta ngỏ ý xin lỗi bà xã vì “hôm trước đã dùng dây thắt lưng đánh quá dã man".

Khi lời xin lỗi không được chấp nhận, Hùng chạy xuống nhà, lấy con dao gọt hoa quả, tự đâm vào bụng rồi kêu lên “vợ tôi nó giết người”. Thấy dân làng không ai đến, Hùng càng kêu to.

Nghe chị Nhâm bảo: “Anh tự làm thì anh chịu thôi, không ai giúp anh đâu”, Hùng chạy ra ngoài, lấy con dao chém nhiều nhát khiến vợ gục chết trên giường ngủ.

Gây án xong, Hùng chạy vào buồng, đóng kín cửa rồi gí điện quanh người toan tự tử. Nhưng anh ta được hàng xóm phá cửa kịp thời và bắt nộp cho công an.

Trước những lời kể rành rẽ về tội ác của Hùng, những người tham dự phiên tòa đều không cầm được mắt. Họ căm phẫn hành vi của bị cáo bao nhiều thì lại xót thương cho 3 đứa trẻ giờ bơ vơ không nơi nương tựa. Hiện tại, hai đứa lớn phải bỏ học để thay mẹ kiếm tiền nuôi em.

Ngày cha phải hầu tòa cũng là ngày mà 3 đứa làm lễ 100 ngày cho mẹ. Chúng phân công anh cả ở nhà lo cúng bái. Còn hai đứa em đi tham dự phiên xử. Nhìn bố, cậu con thứ hai tỏ ra lầm lì, còn cô con gái út liên tục khóc sịt sùi.

Đưa mắt về phía đứa em đứng trước vành móng ngựa, chị gái của Hùng căm giận bảo: "Nó phải nhận mức án thích đáng cho hành vi tàn ác đã gây ra. Gia đình không chấp nhận người chồng vũ phu, tàn ác như vậy trong nhà”. Và ngày 5/2 Hùng đã bị TAND tỉnh Nghệ An tuyên phạt tù chung thân về tội giết người.

Phiên tòa khép lại với lời cảnh báo của chủ tọa về nạn bạo lực gia đình đang tồn tại rất nhiều ở một số vùng quê nghèo. "Đây thực sự là bài học cảnh tỉnh cho tất cả những người chồng vũ phu, ưa dùng bạo lực với vợ con...", nhận xét của vị quan tòa vẫn còn văng vẳng.

(Luật Minh Khuê: Sưu tầm và biên soạn)

>> Xem thêm:  Điều kiện để được đề nghị đặc xá, giảm án ? Hồ sơ xét đặc xá ?

3. Tư vấn bóp cổ có cấu thành tội giết người không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi bị người ta đánh, bóp cổ ngẹt thở chỉ còn vài giây nữa là chết nhưng tôi được cứu kịp thời nên thoát khỏi cái chết. Vậy cho tôi hỏi bóp cổ có cấu thành tội giết người không thành không ?
Xin cảm ơn luật sư

>> Luật sư tư vấn cấu thành tội giết người theo luật hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn bị đánh, bóp cổ vài giây nữa thì chết nhưng bạn kịp thời được cứu thoát, hành vi này của người đó đã cấu thành nên tội giết người chưa đạt.

Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 15. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Ngoài ra, theo Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ Luật Hình sự năm 1999 thì:

"a. Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội phạm chưa đạt là trường hợp đã bắt đầu cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người tội phạm. Khác với chuẩn bị phạm tội, thì người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt (bất kỳ tội phạm nào do cố ý). Tuy nhiên, cần chú ý là chỉ khi có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng tội phạm mà người phạm tội không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ thuộc khoản nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì mới áp dụng khoản, điều luật tương ứng đó. Trong trường hợp không xác định được tội phạm mà họ thực hiện không đạt thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điều luật tương ứng đó"

Tội giết người theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự được cấu thành bởi các yếu tố sau:

Mặt chủ quan:

Lỗi của người phạm tội là cố ý. Có thể là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp.

+ Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, nhưng vì mong muốn hậu quả đó xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

+ Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, nhưng để đạt được mục đích của mình nên đã có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (có ý thức chấp nhận hậu quả đó).

Mặt khách quan tội giết người:

Hành vi khách quan của tội giết người có thể là hành động như: bóp cổ, đấm đá, bẻ cổ, bịt miệng, mũi ...hay sử dụng vũ khí hoặc các chất độc tác động lên người khác (đâm, chém, bắn, bỏ thuốc độc v.v). Hành vi khách quan của tội giết người còn có thể là không hành động. Đó là các trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải làm những việc cụ thể nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác nhưng chủ thể đã không hành động và là nguyên nhân gây ra cái chết của nạn nhân.

Chủ thể tội giết người:

Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên: Chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Khách thể tội giết người:

Khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người (đang sống). Ghi chú: Thai nhi không được xem là một con người đang sống cho đến khi được sinh ra và còn sống.

>> Xem thêm:  Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?

4. Mức phạt khi chưa được xóa án tích lại giết người?

Thưa luật sư, xin hỏi tình huống sau: K phạm tội giết người theo điều 123 Bộ luật hình sự 2015(BLHS). Giả sử vừa chấp hành xong hình phạt 7 năm tù về tội trộm cắp tài sản( chưa được xóa án tích lại tái phạm tội như tình huống trên thì trường hợp phạm tội của K được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm ?
Cảm ơn luật sư.- Phạm Thị Phượn

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại Điều 53 của Bộ luật hình sự 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm như sau:

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Như vậy, để xác định trường hợp của K là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm cần phải xác định 2 vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, tội giết người của K là lỗi vô ý hay cố ý?

Thứ hai, K đã bị kết án về loại tội gì?

Theo Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về việc phân loại tội phạm như sau:

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Thứ nhất, Đối với tội giết người của K theo Điều 123 Bộ luật hình sự 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017), mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, vì vậy theo khoản 4 Điều 9 Bộ luật hình sự 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017) là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hơn nữa, thông tin mà bạn cung cấp thì K đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, do đó, có thể thấy K hoàn toàn nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi của mình. Do đó, K phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

Đối với tội trộm cắp tài sản của K thuộc loại tội gì thì cần phải xác định mức phạt cao nhất của khung hình phạt mà K đã bị kết án. Do bạn không cung cấp thông tin là K đã bị kết án theo khoản 2 hay khoản 3 của Điều 173 Bộ luật hình sự 2015( sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên tôi sẽ chia làm hai trường hợp là

K bị kết án theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015( sủa đổi, bổ sung năm 2017) :

Đối với vấn đề xác định loại tội phạm sẽ không dựa vào mức án mà tòa án đã tuyên mà cần phải dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt để xác định. Nếu K phạm tội theo khoản 2 Điều 173 thì mức cao nhất của khung hình phạt là 07 năm tù. Như vậy, tội phạm mà K đã bị kết án trong trường hợp này là tội phạm nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015( sủa đổi, bổ sung năm 2017).Như vậy, xét trong trường hợp này thì: K đã bị kết án , chưa được xóa án tích, lại thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên trương hợp phạm tội này của K là tái phạm

K bị kết án theo khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015( sủa đổi, bổ sung năm 2017):

Nếu như K bị kết án theo khoản 3 Điều 173 thì mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù. Như vậy, theo khoản 3 Điều 9 Bộ luật hình sự, thì trường hợp này K đã phạm tội rất nghiêm trọng. Như vậy, xét trong trường hợp này thì: K đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, lại thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên trương hợp phạm tội này của K là tái phạm nguy hiểm theo điểm a, khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

>> Xem thêm:  Quy định về chứng cứ trong tố tụng hình sự ?

5. Tư vấn quy định luật hình sự về tội giết người ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Tôi có câu hỏi mong được giải đáp: Cù lao X (gồm 3 xã, thuộc một tỉnh ở miền Tây) vốn rất yên bình, cho đến khi một người đàn ông tên A (sinh năm 1967) neo ghe lại đây. A tự xưng là thầy thuốc có thể chữa bệnh, làm phép, đặc biệt là chữa cho phụ nữ đã có chồng hoặc các cô gái trẻ.

“Thầy” dặn những ai đến khám bệnh hoặc xin phép đều phải đi một mình đến nhà “thầy” lúc nửa đêm vì lúc này âm khí cực thịnh sẽ giúp phép của thầy linh hơn. Một thời gian sau khi “thầy” A đến, Cù lao X đã xảy ra 2 vụ mất tích không biết lý do mà nạn nhân đều là nữ.

Mãi cho đến ngày 10/7/2016, một cô gái tên P. (sinh năm 1975) nói với gia đình rằng tối đêm đó sẽ một mình đến nhà “thầy” A chữa bệnh. Sáng hôm sau, người nhà không thấy P. nên đã báo công an. Người ta đã bắt đầu nghi ngại về “thầy” A. Đầu tháng 9/2016, lực lượng trinh sát và công an huyện đột ngột kiểm tra hành chính nhà “thầy” A. Họ đã phát hiện trên bàn thờ ở giữa nhà có 3 hộp sọ người. Lực lượng chức năng cũng tìm thấy 3 thi thể không đầu được chôn cạnh vườn nhà và một số chứng minh thư của các cô gái mất tích từ trước. Tại cơ quan chức năng, “thầy” A khai nhận, khi các cô gái xấu số đến nhà “thầy” xin phép chữa bệnh đều bị “thầy” bóp cổ nạn nhân cho đến chết. Khi nạn nhân chết, hắn thực hiện hành vi giao cấu với xác chết, rồi chặt đầu chôn thi thể cạnh vườn nhà. Phần đầu của các nạn nhân hắn đã luộc chín bằng nồi (mượn từ hàng xóm), hắn gỡ phần da thịt và lấy hộp sọ để luyện tà thuật “Thiên linh cái”. Hắn tự cho rằng mình đã luyện được tà môn này nên có thể độn thổ khỏi trại giam và có khả năng điều khiển âm binh quỷ thần. “ông thầy” này sẽ bị xử lý ra sao? *Biết rằng biên bản giám định pháp y tâm thần của cơ quan chức năng xác định A không bị mắc bệnh tâm thần nào hết.*

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp, có thể thấy, A đã thực hiện thực hiện một số thủ đoạn lừa dối đối với người khác khiến cho họ tin về khả năng chữa bệnh, làm phép của mình để sau đó thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự khác. Theo sự điều tra của công an, A đã có hành vi giết nhiều người (ở đây xác định được có ít nhất là 3 người bị A giết) bằng phương pháp bóp cổ nạn nhân tới chết, giao cấu với thi thể của người đã chết và một số hành vi khác như: chặt đầu, luộc, gỡ lấy sọ,...

Theo quy định tại Điều 93 Bộ Luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

Căn cứ vào trường hợp trên, A đã có hành vi giết nhiều người với số lượng người bị A giết ít nhất xác định được là 3 người, sau khi giết người A còn thực hiện việc giao cấu với thi thể người bị giết, lấy bộ phận cơ thể của người bị giết. Ngoài ra, đối với việc thực hiện hành vi này, A thực hiện một cách có ý thức và cố ý, thể hiện ở việc A không mắc bệnh tâm thần theo như giám định của cơ quan pháp y và việc giết người này là nhằm hướng đến việc thực hiện các hành vi phạm tội khác. Do đó, A có thể bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với hành vi giết người.

Đối với hành vi giao cấu với thi thể người bị giết, lấy bộ phận cơ thể của người bị giết, đây là hành vi xâm phạm đến sự toàn vẹn của thi thể, trái với những quy tắc về thuần phong, mỹ tục đã được luật hóa tại BLHS. Do đó, A có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 246 BLHS:

"Điều 319. Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt

Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

b) Chiếm đoạt hoặc hủy hoại vật có giá trị lịch sử, văn hóa;

c) Vì động cơ đê hèn;

d) Chiếm đoạt bộ phận thi thể, hài cốt.

Như vậy, với hành vi giao cấu với thi thể và lấy bộ phận của cơ thể người chết, A có thể bị phạt đến năm năm tù. Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định trên của BLHS và các tài liệu, chứng cứ để đưa ra hình phạt đối với từng hành vi phạm tội của A, sau đó ra quyết định tổng hợp hình phạt đối với A theo quy định tại Điều 50 BLHS:

"Điều 55. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

1. Đối với hình phạt chính:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;

Như vậy, cơ quan điều tra sẽ vào cuộc điều tra và dựa trên những chứng cứ thu được để xác định tội danh đối với A theo các cơ sở pháp lý nêu trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có phải tội phạm hình sự hay không ?