Người có quyền, lợi ích liên quan trong quan hệ dân sự hay trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có thể là người có quyền, lợi ích độc lập hoặc có quyền, lợi ích phụ thuộc.

1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là gì ?

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ động, theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của toà án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự không khởi kiện như nguyên đơn, không bị kiện như bị đơn mà là người tham gia tố tụng khi vụ án đã xuất hiện giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Việc tham gia tố tụng của họ trong vụ án dân sự là do họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự. Trong đó, quyền đòi bồi hoàn giữa các đương sự là một trong những căn cứ chủ yếu để người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, như quyền của chủ phương tiện đổi với người lái xe của họ trong trường hợp chủ phương tiện phải bồi thường cho người bị hại do người lái xe gây ra; quyền của toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra đối với người tiến hành tố tụng trong trường hợp các cơ quan này đã bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng gây ra ... Ngoài ra, việc tham gia tố tụng của họ có thể còn xuất phát từ các căn cứ pháp lý khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn hay còn gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là gì ?

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn. Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn, bị đơn. Thông thường người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tô tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn, bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ sau đổ sẽ gặp khó khăn hơn.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là gì ?

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tộ tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn. Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập lợi ích pháp lý của họ gắn liền với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên việc tham gia tố tụng của họ bị phụ thuộc vào nguyên đơn. Tuy vậy, khi tham gia tố tụng của họ vẫn có quyền quyết định trong phạm vi quyền lợi của họ.

4. Người yêu cầu trong việc dân sự là gì ?

Người yêu cầu trong việc dân sự là người tham gia tố tụng đưa ra yêu cầu về giải quyết việc dân sự. Việc tham gia tố tụng của người yêu cầu trong việc dân sự cũng chủ động như nguyên đơn trong vụ án dân sự. Người yêu cầu trong việc dân sự cũng có lợi ích pháp lý độc lập, được đưa ra yêu cầu cho toà án giải quyết như nguyên đơn ttong vụ án dân sự khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, yêu cầu của họ chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu toà án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của họ hoặc công nhận quyền, nghĩa vụ của họ.

5. Người có liên quan trong việc dân sự là gì ?

Người có liên quan trong việc dân sự là người tham gia tố tụng vào việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả lời về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong việc dân sự cũng nhừ việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong vụ án dân sự CÓ thể do họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của toà án.

Trước đây, Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự. Hiện nay, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự bao gồm cả nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, người yêu cầu và người có liên quan trong việc dân sự nhằm bảọ đảm cho họ bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp trước toà án.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp về quyến sử dụng đất

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là “Người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Cũng theo quy định này thì “Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự nói chung, vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất nói riêng được tham gia tố tụng trong các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do đương sự đề nghị. Nghĩa là, khi nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn ghi tên của họ vào trong đơn khởi kiện tại mục người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hoặc trong quá trình giải quyết, đương sự trong vụ án đề nghị Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp đương sự đề nghị thì phải được Tòa án chấp nhận.

Ví dụ: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp mà bị đơn đang trực tiếp sử dụng là được ông X chuyển nhượng nhưng chỉ làm giấy tay. Do đó, bị đơn đề nghị Tòa án đưa ông X vào tham gia tố tụng để làm rõ phần đất tranh chấp là của ai, việc ông X chuyển nhượng đất cho bị đơn có đúng không..

Trường hợp thứ hai, tự người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị với Tòa án. Nghĩa là, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, họ biết việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi hợp pháp của họ nhưng không có được sự đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng hoặc Tòa án không đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án thì họ có quyền đề nghị Tòa án xem xét đưa họ tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp này cũng phải được Tòa án chấp nhận.

Ví dụ: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà X có nghe nguyên đơn và bị đơn đang tranh chấp quyền sử dụng đất và đang được Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, phần đất tranh chấp bị đơn trước đó đã đem cầm cố cho bà X một số tiền. Vì vậy, nguyên đơn đòi lại đất này là ảnh hưởng tới quyền lợi của bà nên bà X làm đơn gửi Tòa án đề nghị đưa bà tham gia tố tụng trong vụ án để đảm bảo quyền lợi của bà X.

Trường hợp thứ ba, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do Tòa án đưa vào tham gia tố tụng. Đây là trường hợp khi giải quyết vụ án không đương sự nào đề nghị đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng hoặc không có ai đề nghị Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ví dụ: Khi xem xét, thẩm định tại chỗ đất tranh chấp thì được biết trên đất tranh chấp có một căn nhà do ông Y đang ở. Phần đất này theo ông Y là do bị đơn cho ông. Vì vậy, Tòa án phải đưa ông Y vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

7. Một số trường hợp cụ thể Tòa án phải đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng

Thực tiễn cho thấy, bản án bị hủy do không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất thường rơi vào trường hợp thứ ba như đã trình bày ở trên. Đây là sai sót của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Do đó, khi giải quyết vụ án, Thẩm phán cần lưu ý đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong một số trường hợp cụ thể sau:

Thứ nhất, đất tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và do hộ gia đình canh tác, sử dụng. Như vậy, khi thuộc trường hợp này, Thẩm phán cần phải đưa tất cả thành viên trong hộ gia đình của bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bên đang trực tiếp canh tác, sử dụng đất đang tranh chấp vào tham gia tố tụng. Thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thì Tòa án thường đưa người từ đủ 15 tuổi trở lên vào tham gia tố tụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải trường hợp nào các thành viên trong hộ cũng có chung sổ hộ khẩu mà có thể họ có gia đình và tách riêng hộ khẩu. Do đó, ngoài việc kiểm tra tại thời điểm giải quyết, Thẩm phán cần phải xác minh làm rõ tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm những ai, để đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án mặc dù họ đã tách riêng hộ khẩu. Một lưu ý nữa là, có trường hợp tại thời điểm thụ lý có thành viên trong hộ chưa đủ 15 tuổi nên Thẩm phán không đưa họ vào tham gia tố tụng nhưng do việc giải quyết vụ án cần xác minh thu thập chứng cứ kéo dài thời gian giải quyết nên khi đưa vụ án ra xét xử họ đã trên 15 tuổi thì Thẩm phán phải đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Thứ hai, đất tranh chấp do bên thứ ba đang trực tiếp canh tác, sử dụng. Việc canh tác, sử dụng đất của bên thứ ba là do được cho mượn hoặc cho thuê, chuyển nhượng hoặc là hộ có đất giáp ranh đất tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán cần làm rõ đất tranh chấp hiện do ai đang trực tiếp canh tác sử dụng, nếu không phải là thành viên trong hộ của nguyên đơn, bị đơn thì phải đưa họ vào tham gia tố tụng. Sai sót này thường xảy ra trong trường hợp, thời gian giải quyết vụ án kéo dài, đương sự cho người thứ ba mượn, thuê hoặc chuyển nhượng chỉ viết giấy tay mà không thông báo cho Thẩm phán biết hoặc khi xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp thể hiện một phần đất tranh chấp do hộ khác có đất giáp ranh đang sử dụng. Khi xét xử, Thẩm phán không phát hiện và không hỏi làm rõ vấn đề này tại phiên tòa.

Thứ ba, đất tranh chấp thế chấp tại ngân hàng. Đất tranh chấp mà đương sự đã thế chấp cho ngân hàng từ trước. Một số trường hợp, Thẩm phán chủ quan chỉ dựa vào bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đương sự giao nộp mà không yêu cầu họ nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định nên không phát hiện đất đang thế chấp tại ngân hàng. Hoặc trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bằng cách nào đó, đương sự vẫn thế chấp để vay vốn tại ngân hàng mà đương sự không thông báo cho Thẩm phán biết. Do đó, khi giải quyết vụ án (trong thời gian chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa), Thẩm phán cần làm rõ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thế chấp ngân hàng không để đưa ngân hàng vào tham gia tố tụng. Tuy nhiên, cần lưu ý là không đưa phòng giao dịch hoặc chi nhánh của ngân hàng vào tham gia tố tụng. Vì các cơ quan này không phải là pháp nhân.

Thứ tư, trên đất tranh chấp có tài sản của người thứ ba. Xem xét, thẩm định tại chỗ là thủ tục tố tụng và yêu cầu bắt buộc Thẩm phán phải thực hiện khi giải quyết vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất. Một số trường hợp, trên đất tranh chấp ngoài tài sản của nguyên đơn hoặc bị đơn còn cò tài sản của người thứ ba như: nhà, giếng, cây…nên phải đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tài sản này có thể hình thành trước khi các bên tranh chấp hoặc trong quá trình Tòa án giải quyết. Do đó, Thẩm phán cần lưu ý hỏi đương sự để làm rõ tài sản trên đất tranh chấp là của ai trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Thứ năm, đất tranh chấp có một phần diện tích nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bên thứ ba ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho nguyên đơn hoặc bị đơn. Một số trường hợp, khi xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất nguyên đơn yêu cầu ngoài diện tích nằm trong diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho nguyên đơn hoặc bị đơn còn có diện tích đất nằm trong chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho bên thứ ba mà không phải là nguyên đơn hoặc bị đơn. Trong trường hợp này, Thẩm phán cũng phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghịa vụ liên quan. Nếu đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ho hộ gia đình thì đưa thành viên trong hộ như trường hợp thứ nhất.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, nguyên đơn, bị đơn dân sự, quyền thừa kế ... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê