1. Người lao động được đi làm trễ, về sớm hưởng 100% lương khi nào?

Căn cứ theo quy định pháp luật hiện hành, các trường hợp người lao động được đi làm trễ, về sớm hưởng 100% lương bao gồm những trường hợp sau:

1.1. Trường hợp người lao động nữ trong thời gian hành kinh

Trường hợp người lao động nữ trong thời gian hành kinh  theo quy định tại khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định cụ thể như sau:

- Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Căn cứ theo hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP có hướng dẫn việc thời gian nghỉ hành kinh của người lao động nữ cụ thể như sau:

- Lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là 03 ngày làm việc trong một tháng; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do người lao động thông báo với người sử dụng lao động;

- Trường hợp lao động nữ có yêu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định tại điểm a khoản này thì hai bên thỏa thuận để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ;

- Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định tại điểm a khoản này, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ và thời gian làm việc này không tính vào thời giờ làm thêm của người lao động.

Như vậy, lao động nữ được đi trễ, về sớm trong thời gian hành kinh (tổng thời gian đi trễ, về sớm không được quá 30 phút/ngày hành kinh và không quá 3 ngày/tháng).

1.2. Trường hợp lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Căn cứ theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định về người lao động nữ bảo vệ thai sản như sau:

- Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong trường hợp sau đây:

+ Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

+ Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.

- Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

- Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.

- Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Theo quy định tại Nghị định 85/2015/NĐ-CP quy định, lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Như vậy, lao động nữ được đi trễ, về sớm trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi (tổng thời gian đi trễ, về sớm không được quá 60 phút/ngày làm việc).

1.3. Trường hợp thỏa thuận với người sử dụng lao động

Ngoài những trường hợp theo quy định của pháp luật lao động, trên thực tế vẫn có rất nhiều trường hợp khác người lao động được đi muộn, về sớm mà vẫn hưởng nguyên lương. Ví dụ như trường hợp  người lao động bị ốm, có việc riêng đột xuất, hoặc trường hợp khác tai nạn, hỏng xe, tắc đường... thì người lao động có thể xin phép người sử dụng lao động được đi muộn, hoặc về sớm mà vẫn được hưởng nguyên lương của ngày làm việc đó.

Thông thường, những trường hợp này đều được đề cập trong thỏa ước lao động, nội quy lao động của doanh nghiệp.

2. Xử lý kỷ luật khi người lao động đi sớm về muộn 

Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Lao động 2019 quy định về các hình thức xử lý kỷ luật lao động như sau:

- Khiển trách.

- Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng.

- Cách chức.

- Sa thải

Theo Điều 127 Bộ luật lao động 2019 quy định về các hành vi nghiêm cấm khi bị xử lý kỷ luật lao động như sau:

-  Xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phẩm của người lao động.

- Phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.

- Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không có quy định.

Như vậy, trường hợp người lao động đi trễ, về muộn hơn thời giờ làm việc của doanh nghiệp tức là họ đã vi phạm nội quy lao động và có thể áp dụng hình thức kỷ luật lao động như khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng, cách chức hoặc sa thải nhưng không được trừ lương của người lao động.

3. Chế độ thai sản của lao động nữ được quy định như thế nào?

Theo quy định hiện hành lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng; trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con; người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng; trong thời gian nghỉ thai sản; lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định.

Nếu có nhu cầu nghỉ thêm lao động nữ có thể xin nghỉ một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động; trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định; lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước; được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh; chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động chi trả; lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2014.

Lao động nam khi vợ sinh con; người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; lao động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Người lao động được đi làm trễ, về sớm hưởng 100% lương khi nào? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!