Luật sư tư vấn

1. Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh 

Theo quy định của Luật Thu nhập cá nhân hiện hành, cá nhân được trừ các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, trừ đi mức giảm trừ gia cảnh, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định... số còn lại mới là thu nhập làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.

Về mặt lý luận, giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ ra khỏi thu nhập trước khi tính thuế để tính đến hoàn cảnh khác nhau của người nộp thuế, hướng tới mục đích đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập, thay vì áp dụng cứng nhắc một mức thu nhập khởi điểm chịu thuế chung, cào bằng đối với tất cả các cá nhân. 

Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân, giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc của mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế. Như vậy, về điều kiện, giảm trừ gia cảnh chỉ áp dụng đối với chủ thể nộp thuế thỏa mãn 2 điều kiện đồng thời:

Một là, chủ thể nộp thuế phải là cá nhân cư trú theo quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam;

Hai là, chủ thể nộp thuế có thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.

Theo điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định:

"c) Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh

c.1) Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế:

c.1.1) Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.

c.1.2) Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân từ tháng 01 hoặc từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng).

c.1.3) Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa được giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế theo quy định."

Căn cứ theo quy định trên thì có thể thấy, nếu người lao động này đã đăng ký giảm trừ bản thân khi tính thuế thu nhập cá nhân tại nơi khác trùng với thời gian tính trả lương bên bạn thì tại Công ty bạn sẽ không áp dụng giảm trừ bản thân 9.000.000 đồng/ tháng và sẽ tính thuế lũy tiến từng phần trên toàn bộ tiền lương tính thuế (cá nhân cư trú).

 

2. Cách tính thuế thu nhập cá nhân khi làm ở hai nơi?

Theo khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân như sau:

"1. Khấu trừ thuế:

- Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu thập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập, cụ thể như sau:

b) Thu nhập từ tiền lương, tiền công

b.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân, cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2 Điều 2 Thong tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/ lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết."

Như vậy:

- Cá nhân có thu nhập từ nhiều nơi và ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thì tính thuế thu nhập cá nhân theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.

- Cá nhân có thu nhập nhiều nơi trong đó có nơi ký dưới 3 tháng (thời vụ, giao khoán, cộng tác viên...) mà mức lương từ 2.000.000/ lần hoặc /tháng trở lên thì phải khấu trừ 10% (Không được làm cam kết vì có thu nhập 2 nơi).

 

3. Một vài vấn đề pháp lý khác liên quan đến giảm trừ gia cảnh 

Thứ nhất, điều kiện giảm trừ gia cảnh.

Đối với người phụ thuộc là con cái, người nộp thuế đã đăng ký giảm trừ gia cảnh tại cơ quan thuế và đã được cấp mã số thuế người phụ thuộc. Trong trường hợp con là người từ 18 tuổi trở lên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc đang trong giai đoạn chuyển cấp từ trung học phổ thông lên cấp cao hơn là người phụ thuộc nếu không có thu nhập hoặc có mức thu nhập không quá 1.000.000 đồng/ tháng.

Đối với người phụ thuộc là các đối tượng còn lại:

- Người nộp thuế đã đăng ký giảm trừ gia cảnh tại cơ quan thuế và đã được cấp mã số thuế người phụ thuộc.

- Đối với người trong độ tuổi lao động thì phải là người bị khuyết tật hoặc không có khả năng lao động và không có thu nhập hay có mức thu nhập không quá 1.000.000 đồng/ tháng.

- Đối với người ở ngoài độ tuổi lao động thì phải không có thu nhập hoặc có mức thu nhập trung bình không quá 1.000.000 đồng/ tháng.

- Đối với các nhóm đối tượng khác nêu trên thi phải đáp ứng điều kiện là không có nơi nương tựa, người nộp thuế là người trực tiếp nuôi dưỡng và có giấy tờ chứng minh điều đó.

Để được giảm trừ gia cảnh trong việc nộp thuế thu nhập cá nhân thì người nộp thuế thu nhập cá nhân thì người nộp thuế cần phải đáp ứng được các điều kiện nêu trên và có đăng ký đối với trường hợp giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc theo như quy định.

Thứ hai, mức giảm trừ gia cảnh.

Căn cứ Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14, mức giảm trừ gia cảnh cụ thể như sau:

- Mức giảm trừ gia cảnh đối với trường hợp nộp thuế là 11.000.000 đồng/ tháng (132 triệu đồng/ năm)

- Mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc là 4.400.000 đồng/ tháng (52.800.000 đồng/ năm)

Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu như người nộp thuế đã đăng ký và đã được cấp mã số thuế.

Thứ ba, quy định người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh.

Người phụ thuộc là người mà các đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, gồm có:

- Con chưa thành niên, con bị tàn tật và không có khả năng lao động

- Các cá nhân không có thu nhập hoặc có mức thu nhập không vượt quá quy định. Con đang theo học ở Việt Nam hoặc nước ngoài tại cấp bậc đại học, cao đăng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, con từ 18 tuổi trở lên đang theo học bậc phổ thông, vợ hoặc chồng mất khả năng lao động, bố và mẹ đã hết độ tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động, những người không nơi nương tựa mà người nộp thuế là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Thứ tư, hồ sơ giảm trừ gia cảnh.

Trường hợp các cá nhân nộp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc trực tiếp tại cơ quan thuế, hồ sơ gồm có:

- Bản đăng ký người phụ thuộc tại mẫu số 07/ĐK-NPT-TNCN ban hành kèm theo Phụ lục II theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC.

- Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc căn cứ theo hướng dẫn tại điểm g Khoản 1 Điều 9 của Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

- trường hợp người phụ thuộc do người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng phải có xác nhận tại Ủy ban nhân dân xã/phường nơi người phụ thuộc cư trú tại mẫu số 07/XN-NPT-TNCN ban hành kèm theo Phụ lục II của Thông tư số 80/2021/TT-BTC.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số tổng đài1900.6162 để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!