1. Mất năng lực hành vi dân sự là gì?

Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 quy định về năng lực hành vi dân sự như sau: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

 Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng bằng chính hành động của chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ, ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả nặng lực chịu trách nhiệm khi có sự vi phạm nghĩa vụ.

Việc xác định năng lực hành vi của cá nhân là không giống nhau, những cá nhân khác nhau có nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lý trí của cá nhân đó. Mức độ năng lực hành vi dan sự của cá nhân được chia thành 3 cấp độ: Năng lực hành vi đầy đủ; Năng lực hành vi một phần; Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Xét theo khái niệm thông thường, “mất” là thuật ngữ dùng để chỉ nhưng sự vật, hiện tượng đang tồn tại nhưng sau đó không còn sự vật, hiện tượng đó nữa. Như vậy, có thể hiểu mất năng lực hành vi dân sự là việc một cá nhân không còn khả năng tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ. Như vậy, một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

- Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi;

- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;

- Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của những chủ thể trên, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

2. Người mất năng lực hành vi dân sự có được thừa kế tài sản không?

Căn cứ vào quy định tại Điều 609 và Điều 610 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế và quyền bình đẳng về thừa kế có thể nói mọi cá nhân đều bình đẳng về thừa kế, có quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật như sau:

- Quyền thừa kế:  Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

- Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Như vậy, pháp luật thừa nhận quyền bình đẳng của mọi cá nhân trong việc hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật mà không có trường hợp ngoại lệ nào. Do đó mà người mất năng lực hành vi dân sự vẫn được hưởng di sản thừa kế bình đẳng như những người khác.

Việc bình đẳng trong hưởng di sản thừa kế cũng được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ trong các hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Theo đó, khi người chết để lại di chúc thì việc định đoạt, phân chia di sản thừa kế sẽ thực hiện theo di chúc mà không phân biệt là người mất năng lực hành vi dân sự hay là người bình thường.

Đối với trường hợp hưởng di sản thừa kế theo pháp luật cũng vậy, việc phân chia này thực hiện theo hàng thừa kế và cũng không có sự hạn chế nào đối với người mất năng lực hành vi dân sự, cụ thể như sau:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Tuy nhiên, khi hưởng di sản thừa kế theo pháp luật hoặc theo định đoạt trong di chúc thì dù là người mất năng lực hành vi dân sự hay người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phải bảo đảm điều kiện được quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể như sau:

Người thừa kế Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, theo quy định trên thì không có quy định nào cấm người mất năng lực hành vi dân sự nhận thừa kế. Người mất năng lực hành vi dân sự vẫn được hưởng di sản thừa kế nhưng tại thời điểm mở thừa kế người đó phải còn sống.

3. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự

Người giám hộ là thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự

3.1. Người giám hộ đương nhiên

Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật tại Điều 53 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

- Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

3.2. Người giám hộ do cử, chỉ định

Người giám hộ do cử, chỉ định được quy định tại Điều 54 Bộ luật dân sự như sau:

- Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.

- Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật dân sự 2015 về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.

- Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.

- Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ: Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề năng lực hành vi dân sự, khách hàng có thể tham khảo thông tin tại bài viết: Năng lực hành vi dân sự là gì? Mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Người mất năng lực hành vi dân sự có được thừa kế tài sản không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!