1. Án treo

Tại điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì:

Điều 65. Án treo
1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Khái niệm và điều kiện để được hưởng án treo

2.1 Khái niệm

Hiện nay, đối tượng chịu trách nhiệm hình sự không chỉ dừng lại ở cá nhân người phạm tội mà pháp luật còn mở rộng đối với đối tượng là pháp nhân thương mại. Tuy nhiên theo qui định tại Điều này thì Án treo chỉ áp dụng đối với người phạm tội, do vậy có thể gọi đây là một qui định có tính đặc biệt. Để hiểu hết được các qui định liên quan, thì trước tiên chúng ta cần có cách nhìn nhận đúng về án treo, vậy án treo là gì? có quan điểm cho rằng án treo là một loại hình phạt được pháp luật hình sự qui định. Nhưng xem xét qui định tại Điều 32 về các hình phạt đối với người phạm tội thì chúng ta có thể nhận thấy, án treo không phải là một trong những hình phạt được qui định tại Điều này kể cả là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung. Vì vậy, hoàn toàn không có cơ sở để nói án treo là một loại hình phạt. Xét về đặc điểm thì án treo được hình thành, áp dụng trên cơ sở hình phạt tù có thời hạn mà cụ thể là hình phạt tù có thời hạn không quá 03 năm. Pháp luật cũng đã thể hiện rõ khi người phạm tội bị kết án tù có thời hạn không quá 03 năm và đáp ứng thêm một số điều kiện luật định thì không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Như vậy, án treo được hiểu là người bị kết án không phải ngồi tù, được ra ngoài xã hội và từ treo ở đây có thể được hiểu là “treo” hình phạt tù đã tuyên, khi người bị kết án không đáp ứng được các điều kiện luật hình thì họ bắt buộc phải chấp hành hình phạt tù đã treo trước đó. Có thể hiểu, việc hưởng án treo của một người hoàn toàn không giải phóng họ khỏi trách nhiệm đối với bản án đã tuyên. Đồng thời án treo còn được cắt nghĩa là qui định cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. 

2.2 Điều kiện hưởng án treo

Về điều kiện để người bị kết án được xem xét hưởng án treo khi thỏa mãn đồng thời các yếu tố sau:
- Tội bị kết án có hình phạt tù không quá 03 năm: Đây là loại tội phạm ít nghiêm trọng.
- Nhân thân người phạm tội: Đặc điểm nhân thân của một người có thể phản ánh được tính cách, đạo đức của người đó. Các yếu tố về nhân thân được nêu ở đây phải là các đặc điểm tốt như: chưa từng phạm tội, một người sống hòa thuận, biết giúp đỡ mọi người xung quanh, con một trong gia đình, lao động chính, có thành tích trong học tập, lao động tốt …, tất cả các đặc điểm được nêu ở đây thể hiện bản chất đạo đức người bị kết án là tốt, hoàn toàn có khả năng cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, gia đình.
- Tình tiết giảm nhẹ: Những tình tiết nào để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho một người được qui đinh cụ thể tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, nếu xét thấy người phạm tội không nhất định phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội để chấp hành hình phạt đã tuyên thì Tòa án quyết định cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với thời hạn từ 01 đến 05 năm. Ngoài ra người hưởng án treo còn phải chấp hành các nghĩa vụ khác được qui định tại Luật thi hành án hình sự.
Tuy không phải chấp hành hình phạt tù nhưng người hưởng án treo vẫn phải chấp hành các nghĩa vụ khác được qui định. Việc thực hiện các nghĩa vụ này được giám sát bởi chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc bởi cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Bên cạnh trách nhiệm của các cơ quan ban ngành thì gia đình cũng có vai trò cũng như nghĩa vụ quan trọng trong việc phối hợp giám sát, giáo dục người phạm tội. 
Việc được chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang hưởng án treo đã thể hiện một cách đầy đủ nhất chính sách nhân đạo đối với người phạm tội, tuy nhiên người hưởng án treo khi cải tạo tốt và chấp hành được một phần hai thời gian thử thách thì vẫn có thể được xem xét rút ngắn thời gian này sau khi có đề nghị của cơ quan, tổ chức ban ngành có trách nhiệm giám sát, giao dục, Tòa án xem xét rút ngắn thời gian thử thách này. Tuy nhiên nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội cố ý vi phạm một trong các nghĩa vụ được nêu tại Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án hoàn toàn có quyền xem xét buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên trước đó. Nếu có hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo qui định của Bộ luật hình sự thì người bị kết án phải chấp hành cả hai bản án, một bản án cho hưởng án treo trước đó và một bản án đã tuyên theo hành vi phạm tội mới. Việc chấp hành hình phạt được dựa trên hình phạt chung đã tổng hợp. 

3. Tha tù trước hạn có điều kiện

Theo điều 66 Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì

Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Phạm tội lần đầu;
b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
c) Có nơi cư trú rõ ràng;
d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;
đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.
Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;
e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.
2.Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;
b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.
3. Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.
4. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.
Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
5.Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

4. Phân tích về chế định tha tù trước hạn có điều kiện

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là qui định hoàn toàn mới tại Bộ luật hình sự 2015, theo đó người phạm tội khi đáp ứng các điều kiện luật định sẽ được tha tù trước thời hạn. Cụ thể người phạm tội phải hội tụ đầy đủ các yếu tố sau đây mới được xem xét tha tù trước thời hạn:

Phạm tội lần đầu

Có nhiều tiến bộ, ý thức cải tạo tốt: Một số yếu tố có thể căn cứ để đánh giá ý thức cải tạo của người phạm tội như chấp hành đầy đủ các nội quy, qui định tại nơi cải tạo, hăng say lao động sản xuất, giúp đỡ người khác, tích cực trong các phong trào, hoạt động, luôn luôn làm gương cho người khác… 
Có nơi cư trú rõ ràng: nơi cư trú ở đây có thể là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, được xác định bằng một địa chỉ cụ thể.
Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí: Không phải mọi trường hợp phạm tội bị kết án đều bị áp dụng hình phạt bổ sung và/hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Điều luật chỉ đặt ra cho những trường hợp mà bản án có qui định.
Đối với hình phạt tù có thời hạn thì người phạm tội phải chấp hành ít nhất một phần hai thời hạn đó. Đối với tù chung thân sau khi được giảm xuống tù có thời hạn là ba mươi năm thì phải đảm bảo đã chấp nhất ít nhất mười lăm năm. Tuy nhiên đối với một số đối tượng ngoại lệ như: người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi còn dưới 36 tháng tuổi thì đối tượng này pháp luật qui định một khoảng thời hạn khác ngắn hơn. Theo đó đối với hình phạt tù có thời hạn thì chấp hành ít nhất một phần ba thời hạn đó, đối với hình phạt tù chung thân sau khi giảm xuống thời hạn ba mươi năm phải đảm bảo đã chấp hành ít nhất mười hai năm. Việc pháp luật rút ngắn thời hạn đối với những đối tượng này cũng là một sự hợp lý nhất định, bởi lẽ có một số đối tượng mà trên thực tế họ hoàn toàn không có khả năng gây ra các hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc có đối tượng mà sự khoan hồng này nhằm một phần ghi nhận những gì họ đã làm cho xã hội. 
Không thuộc trường hợp không được phạm tội được qui định tại khoản 2 Điều 66.
Người được xem xét tha tù trước thời hạn ngoài việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên mà họ còn phải thuộc đối tượng đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc thuộc đối tượng đang chấp hành án phạt tù thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Với qui định này nhằm đảm bảo việc tha tù trước thời hạn không được thực hiện một cách bừa bãi, không đúng đối tượng và rất có thể trên thực tế một bộ phận lợi qui định này để né tránh việc chấp hành án phạt tù, gây nguy cơ tiềm ẩn các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Một người khi đã được hưởng qui định giảm thời hạn chấp hành án phạt thì đồng nghĩa với việc họ đã có được những ghi nhận nhất định hay nói cách khác là đã tạo ra được tiền đề tốt, xứng đáng để được tiếp tục xem xét khi đáp ứng thêm những điều kiện luật định.
Tuy nhiên không phải mọi trường hợp chấp hành hình phạt tù khi đáp ứng các điều kiện nêu trên đều được xem xét áp dụng qui định tha tù trước thời hạn. Theo đó tại khoản 2 Điều này đã nêu ra một số trường hợp ngoại lệ mà người bị kết án sẽ không được xem xét áp dụng chế định này: 
- Người bị kết án tại Chương XIII - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia.
- Người bị kết án tại Chương XXVI - Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. 
- Người bị kết án tại Điều 299 - Tội khủng bố. 
- Người bị kết án tại Chương XIV mà hình phạt tù áp dụng từ 10 năm trở lên, thực hiện hành vi với lỗi cố ý - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. 
- Người bị kết án các tội nêu tại Điều 168 - Tội cướp tài sản, Điều 169 - Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 248 - Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Điều 251 - Tội mua bán trái phép chất ma túy, Điều 252 - Tội chiếm đoạt chất ma túy mà hình phạt tù áp dụng từ 07 năm trở lên.
- Người bị kết án tử hình nhưng được ân giảm xuống tù chung thân.
- Người bị kết án tử hình nhưng giảm xuống tù chung thân do thuộc trường hợp phụ nữ có thai; phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tuổi trở lên; người bị kết án từ hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản thâm ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. 
Xét về điều kiện phải thực hiện sau khi được tha tù trước thời hạn là người phạm tội phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời hạn thử thách. Thời gian này được ấn định đúng bằng khoảng thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại, nếu trong khoảng thời giàn này, người phạm tội thực hiện tốt các nghĩa vụ được đặt ra, đạt nhiều tiến bộ thì được Tòa án xem xét rút ngắn thời gian thử thách trên cơ sở đề nghị, đánh giá của Cơ quan thì hành án hình sự có thẩm quyền. Tuy nhiên, đặt trong trường hợp ngược lại, người phạm tội cố ý vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên hoặc bị xử phạt hành chính hai lần trở lên thì Tòa án hoàn toàn có quyền xem xét hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn cho người phạm tội, hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu đó là họ phải chấp hành hình phạt tù đối với khoảng thời hạn còn lại trước khi được áp dụng quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nếu người phạm tội thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xá hội và hành vi này đủ yếu tố cấu thành một trong các tội danh được nêu tại Bộ luật này thì Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt chung giữa hình phạt của tội mới và phần hình phạt tù còn lại. 
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê