Căn cứ vào khoản 2 Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con.
Như vậy, với quy định người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc nhằm bảo đảm người lao động biết trước những yếu tố có thể gây rủi ro cho mình mà có thể quyết định không làm việc; hoặc đồng ý làm việc thì có biện pháp phòng, tránh rủi ro.
Đồng thời, với quy định bắt buộc người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động nhằm giúp người lao động phòng, tránh, được rủi ro khi làm việc, hạn chế tối đa xảy ra tai nạn lao động đáng tiếc.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn nữa quy định pháp luật lao động Việt Nam về vấn đề này:
1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp thông tin nào về công việc?
Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành thì một trong những nghĩa vụ quan trọng của người sử dụng lao động trong quá trình thương lượng, thỏa thuận giao kết hợp đồng lao động là nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, về sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà phía người lao động yêu cầu. Tức là, nếu công việc mà người lao động đang muốn ứng tuyển làm việc có những tính chất nguy hiểm, nguy cơ hoặc có những yêu cầu đặc biệt thì phía người sử dụng lao động phải cung cấp trung thực đối với tất cả những thông tin có liên quan đó trong quá trình thỏa thuận giao kết hợp đồng lao động. Bởi từ những thông tin như thế, người lao động mới có những cái nhìn nhận tổng quan nhất định về mức độ khó khăn của công việc, cũng như những ảnh hưởng mà công việc có thể gây ra cho người lao động đó. Sau khi đã nắm bắt được những thông tin đó, người lao động mới đưa ra quyết định rằng có giao kết hợp đồng lao động hay không. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động đó là: "Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực", cũng như bảo vệ được quyền tự do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm của người lao động.
Cụ thể, căn cứ vào khoản 2 Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục quy định tại Chương IV Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con.
Đặc biệt, khi sử dụng người lao động làm công việc thuộc danh mục nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con, người sử dụng lao động có một số trách nhiệm quan trọng như sau:
- Thực hiện công bố công khai để người lao động biết về những nghề, công việc có ảnh hướng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con đang có tại nơi làm việc;
- Đồng thời, phải cung cấp đầy đủ thông tin về tác hại cũng như biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại của các nghể, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con để người lao động lựa chọn, quyết định làm việc; thực hiện khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc, khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp và bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật, khi sử dụng người lao động làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con.
Những quy định của pháp luật lao động hiện hành về vấn đề cung cấp thông tin trung thực, đầy đủ về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động đã thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp Việt Nam về việc công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Đảm bảo được quyền và lợi ích của người lao động trong quá trình giao kết hợp đồng lao động, nhằm loại bớt "thế bị động" của người lao động trong mối quan hệ này.
2. Mức xử phạt khi người sử dụng lao động không cung cấp thông tin về tính chất công việc?
Theo phần phân tích trên thì việc cung cấp thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc cho người lao động để người lao động lựa chọn đồng ý hoặc không đồng ý giao kết hợp đồng lao động là vấn đề thuộc vào trách nhiệm của người sử dụng lao động. Vậy nên, nếu người sử dụng lao động không thực hiện sẽ thuộc vào hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó, hành vi vi phạm này có thể áp dụng hình thức xử phạt được quy định tại Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2022 do Chính phủ ban hành về quy định xử phạt vi phạm hành chinh trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Cụ thể như sau:
Người sử dụng lao động không thông tin cho người lao động về một trong các nội dung sau: tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; các yếu tố nguy hiểm, có hại; các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thì sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 22 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, nếu thuộc trường hợp cho thuê lại lao động thì bên thuê lại lao động không thông báo hoặc không hướng dẫn cho người lao động thuê lại biết một trong các nội dung như: nội quy lao động; các yếu tố nguy hiểm; yếu tố có hại; các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc và các quy chế khác của mình thì người sử dụng lao động trong trường hợp này sẽ bị áp dụng hình thức xử lý là phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 5 triệu đồng (căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
Và đặc biệt đối với hành vi vi phạm quy định về lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giời thì người sử dụng lao động có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu người sử dụng lao động không cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và không đảm bảo điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 28 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
Những mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm nêu trên chỉ là mức phạt đối với cá nhân. Nên trong trường hợp đối tượng vi phạm là tổ chức thì mức phạt tiền sẽ bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân, theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Tức là:
- Người sử dụng lao động là tổ chức không thông tin cho người lao động về tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; các yếu tố nguy hiểm, có hại; các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thì có thể bị áp dụng biện pháp xử lý là phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
- Trong trường hợp thuê lại người lao động mà tổ chức người sử dụng lao động không thông báo hoặc không hướng dẫn cho người lao động thuê lại về thông tin các yếu tố nguy hiểm, các yếu tố có hại; các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thì sẽ bị phạt tiền với mức phạt trong khoảng từ 6 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
- Nếu tổ chức doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và không đảm bảo điều kiện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con thì sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng.
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.