1. Hợp đồng bảo hiểm tài sản và đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là gì?

Theo Điều 4, Khoản 16 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 (có hiệu lực từ 01/01/2023), hợp đồng bảo hiểm được định nghĩa như sau:

Hợp đồng bảo hiểm là một thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, hoặc tổ chức hỗ trợ bảo hiểm vi mô. Theo đó, bên mua bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm, trong khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, hoặc tổ chức hỗ trợ bảo hiểm vi mô phải bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Dựa vào quy định của Khoản 1, Điều 15 trong Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 (Có hiệu lực từ 01/01/2023), các loại hợp đồng bảo hiểm được chỉ định như sau:

Các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ;

- Hợp đồng bảo hiểm sức khỏe;

- Hợp đồng bảo hiểm tài sản;

- Hợp đồng bảo hiểm thiệt hại;

- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm.

Các hợp đồng được quy định tại các điểm c, d, và đ trong khoản này thuộc loại hình bảo hiểm phi nhân thọ.

Hợp đồng bảo hiểm tài sản được xác định là một hợp đồng bảo hiểm, trong đó, có sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, bên mua bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Theo quy định của Điều 43 trong Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 (Có hiệu lực từ 01/01/2023) về đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại, có các điểm sau:

- Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.

- Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm thiệt hại là bất kỳ lợi ích kinh tế hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo pháp luật mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi xảy ra tổn thất.

Do đó, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.

 

2. Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không trả tiền bảo hiểm trong những trường hợp nào?

Công ty bảo hiểm sẽ không thanh toán tiền bảo hiểm trong các trường hợp được quy định tại Điều 40 của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, như sau:

- Người được bảo hiểm tự tử trong vòng 02 năm tính từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc từ ngày hợp đồng bảo hiểm khôi phục hiệu lực.

- Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, trừ khi có quy định khác tại Điều này.

- Người được bảo hiểm bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính bản thân hoặc của bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, trừ khi có quy định khác tại Điều này.

- Người được bảo hiểm chết do thi hành án tử hình.

- Các trường hợp khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Trong trường hợp có nhiều người thụ hưởng, nếu một hoặc một số người thụ hưởng gây ra cái chết hoặc thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm một cách cố ý, công ty bảo hiểm vẫn phải bồi thường, thanh toán tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

 

3. Quy định yêu cầu người thứ ba có lỗi gây thiệt hại bồi hoàn lại giá trị tài sản được bảo hiểm không?

Dựa vào điểm e của Khoản 1, Điều 20 trong Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 (Có hiệu lực từ 01/01/2023) về quyền của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, các quyền sau được quy định:

- Thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

- Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực mọi thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

- Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 22, Khoản 2 hoặc chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 26 của Luật này.

- Từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong trường hợp không nằm trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.

- Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật liên quan.

- Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã bồi thường cho người được bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản; lợi ích kinh tế hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo pháp luật; trách nhiệm dân sự do người thứ ba gây ra.

- Quyền khác theo quy định của pháp luật.

Trong Điều 54 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 (Có hiệu lực từ 01/01/2023), quy định về việc chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn được trình bày như sau:

- Trong trường hợp người thứ ba phải bồi thường do hành vi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm, các bước thực hiện như sau:

+ Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm, hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm, hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài về số tiền đã được bồi thường.

+ Doanh nghiệp bảo hiểm, hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy thuộc vào mức độ lỗi của người được bảo hiểm, trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn.

- Khi doanh nghiệp bảo hiểm, hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện quyền yêu cầu bồi hoàn từ người thứ ba, người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài mọi tài liệu và thông tin cần thiết theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và có sự cố từ người thứ ba gây ra, dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả tiền bảo hiểm cho người mua bảo hiểm, doanh nghiệp đó có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm đã chi trả. Ngược lại, người mua bảo hiểm cũng phải chịu trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định.

Nói cách khác, trong tình huống mà bạn gây hại tài sản của người khác và tài sản đó được bảo hiểm, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm, sau khi nhận được quyền yêu cầu bồi hoàn từ người mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn giữ quyền yêu cầu bạn bồi hoàn lại số tiền bảo hiểm đã chi trả.

 

4. Trường hợp nào doanh nghiệp không có quyền yêu cầu người thứ ba có lỗi gây thiệt hại bồi hoàn lại giá trị tài sản được bảo hiểm?

Điều 54, Khoản 3 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm 2022 (Có hiệu lực từ ngày 01/01/2023) quy định về việc chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn như sau:

Các doanh nghiệp bảo hiểm, hoặc chi nhánh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không có quyền đòi hỏi cha mẹ, vợ chồng hoặc con cái của người được bảo hiểm bồi hoàn số tiền mà họ đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này có cố ý gây ra tổn thất.

Do đó, trong trường hợp một bên thứ ba gây ra thiệt hại cho tài sản của người được bảo hiểm, nếu bên thứ ba đó là cha mẹ, vợ chồng hoặc con cái của người được bảo hiểm, thì doanh nghiệp bảo hiểm không được quyền đòi hỏi họ bồi hoàn số tiền đã chi trả, trừ khi những người này có cố ý gây ra thiệt hại.

Bài viết liên quan: Chuyển quyền yêu cầu đòi bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề:  Quy định yêu cầu người thứ ba có lỗi gây thiệt hại bồi hoàn lại giá trị tài sản được bảo hiểm không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!