Việt Nam không coi tập quán pháp và án lệ là nguồn của ngành luật hình sự với nghĩa là nguồn quy định tội phạm và hình phạt cũng như các biện pháp hình sự phi hình phạt. Ở đây, nguồn của luật hình sự được hiểu theo nghĩa hẹp “... nguồn cùa luật hình sự chỉ bao gồm những càn cứ trực tiếp quy định về những gì liên quan đến tội phạm và hình phạt. Nói cách khác, ... nguồn của luật hình sự chỉ cố thẻ là những vân bản pháp luật hình sự ”.
Nguồn của ngành luật hình sự Việt Nam theo nghĩa này chỉ có thể là văn bản quy phạm pháp luật. Do tính chất quan trọng và đặc điểm đặc biệt của đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự nên nguồn của nó không phải là tất cả các loại văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ có thể là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành. Chỉ có luật (bộ luật hoặc luật - Trước đây, để phân biệt văn bản luật không phải là bộ luật với bộ luật chúng ta có khái niệm đạo luật. Hiện nay, khái niệm này không còn được dùng vì theo Điêu 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chỉ có khái niệm luật mà không có khái niệm đạọ luật. Trong đó luật được hiểu bao gồm cả bộ luật) là nguồn của ngành luật hình sự. Các văn bản dưới luật không thể là nguồn của ngành luật hình sự. Những luật được coi là nguồn của luật hình sự phải có các quy định liên quan trực tiếp đến tội phạm và hình phạt.
BLHS là luật mà ttong đó tập hợp đầy đủ hoặc tương đối đầy đủ các quy định về tội phạm và hình phạt hay nói cách khác, BLHS là luật có tất cả hoặc hầu hết các quy phạm pháp luật hình sự. Khác với BLHS, (văn bản) luật hình sự chỉ có một sổ quy phạm pháp luật hình sự. Mỗi (văn bản) luật hình sự có thể giữ vai trò bổ sung cho BLHS trong trường họp có BLHS; còn trong trường hợp không có BLHS thì mỗi văn bản đó là một bộ phận và cùng với các vãn bản khác hợp thành nguồn của ngành luật hình sự. Luật hình sự có thể chỉ có các quy định về tội phạm, về hình phạt thuộc lĩnh vực hoặc vẩn đề cụ thể nào đó. Bên cạnh đó có thể còn có những luật mà trong đó không chỉ có những quy phạm pháp luật hình sự mà còn có
quy phạm pháp luật của ngành luật khác. Đây thực chất là luật của ngành luật khác và trong đó có điều luật xác định tội phạm và quy định hình phạt đối với những hành vi vi phạm thuộc ngành luật đó nhưng ở mức phải bị coi là tội phạm. Do vậy, luật loại này được gọi là luật có quy phạm pháp luật hình sự.
Tóm lại, nguồn của ngành luật hình sự có thể là BLHS, luật hình sự và luật có quy phạm pháp luật hình sự. Nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng ngành luật hĩnh sự theo hướng có ĐLHS và các luật có quy phạm pháp luật hình sự như Cộng hoà liên bang Đức. Trong đó, BLHS quy định những vấn đề chung về tội phạm và hình phạt cũng như quy định những tội danh thông thường; còn các luật quy định các tội danh thuộc những lĩnh vực riêng biệt như lĩnh vực môi trường, lĩnh vực tài chính hay lĩnh vực công nghệ thông tin V.V..
Ở Việt Nam, nguồn của ngành luật hình sự được thể hiện như sau:
- Trước năm 1986:
Thời điểm trước khi BLHS Việt Nam đầu tiên có hiệu lực, ngành luật hình sự Việt Nam không có cả BLHS lẫn luật hình sự. Văn bản quy phạm pháp luật được coi là nguồn của ngành luật hình sự trong giai đoạn này chỉ bao gồm những văn bản dưới luật, trong đó chủ yếu là pháp lệnh. Các pháp lệnh được áp dụng trong giai đoạn này là Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng (năm 1967), Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân (năm 1970), Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ (năm 1981), Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (năm 1982) ... Văn bản quy phạm pháp luật quy định được nhiều nhóm tội nhất trong giai đoạn này là sắc luật số 03 năm 1976. Trong đó, các nhóm tội phạm được quy định bao gồm: Các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản công cộng, các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm, sức khoẻ, tài sản riêng của công dân, các tội kinh tế, các tội chức vụ, hối lộ và các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng. Trong giai đoạn này có thời gian dài chúng ta còn coi cả thông tư và cả án lệ là nguồn của ngành luật hình sự (Xem: Thông tư số 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị 772-TATC ngày 10/7/1959 của Toà án nhân dân tối cao),
- Từ năm 1986 đến nay:
Ngành luật hình sự Việt Nam coi nguồn duy nhất của ngành luật này là BLHS. Điều này được khẳng định rõ trong BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 cũng như trong BLHS năm 2015. Cả ba bộ luật này, khi định nghĩa khái niệm tội phạm tại Điều 8 đều khẳng định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội “được quy định trong BLHS”. Đây là vấn đề vẫn luôn được tranh luận. Câu hỏi tranh luận được đặt ra là: Có nên chỉ coi BLHS là nguồn duy nhất của ngành luật hình sự? Xu hướng chung cho ràng cần cho phép các luật khác cũng được quy định tội phạm thuộc lĩnh vực luật đó điều chỉnh khi tội phạm này chưa được quy định trong BLHS để tránh phải bổ sung thường xuyên BLHS khi phát sinh tội phạm mới trong những lĩnh vực khác nhau. Khi cho phép như vậy sẽ có sự thống nhất giữa quy định về tội phạm với quy định về vi phạm và với hoạt động của lĩnh vực mà vi phạm cũng như tội phạm phát sinh. Đó là cơ sở giúp hiểu quy định về tội phạm được rõ và đầy đủ hơn.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162, để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)