- 1. Nguồn pháp luật là gì?
- 2. Nguồn của luật hình sự là gì?
- 2.1. Phương diện thứ nhất, nguồn luật hình sự là hình thức chứa đựng nội dung của pháp luật
- 2.2. Nguồn luật hình sự là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật về không gian, thời gian, đối tượng áp dụng
- 3. Đặc điểm của nguồn luật hình sự với tư cách là hình thức xác định giới hạn
Kính chào công ty luật Minh Khuê. Em là sinh viên năm 2 trường đại học luật Hà Nội. Hiện tại em đang học luật hình sự ạ. Em có một nội dung chưa rõ cần được hỗ trợ từ công ty. Luật sư cho em biết nguồn của luật hình sự là gì ạ? Rất mong sẽ nhận được giải đáp từ luật sư. Em xin chân thành cảm ơn ạ! (Minh Hiếu - Hà Nội)
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Nguồn pháp luật là gì?
Nguồn pháp luật là hình thức chứa đựng nội dung của pháp luật và là hình thức xác định giới hạn áp dụng của pháp luật trong thực tế.
2. Nguồn của luật hình sự là gì?
Nguồn pháp luật và nguồn luật hình sự là những thuật ngữ chuyên môn trong khoa học pháp lý. Bộ luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam ban hành không có quy phạm định nghĩa những khái niệm này. Nội hàm của khái niệm luật hình sự, như vậy, được xác định phụ thuộc vào cách tiếp cận cũng như quan điểm khoa học riêng của từng nhà nghiên cứu. Quan niệm như thế nào về nguồn luật sẽ đưa đến quan niệm tương ứng về nguồn luật hình sự. Khái niệm nguồn luật hình sự là sự cụ thể hoá khái niệm nguồn luật.
Khái niệm nguồn luật hình sự sẽ được tiếp cận trên hai phương diện:
- Là hình thức chứa đựng nội dung của luật hình sự;
- Là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác động.
2.1. Phương diện thứ nhất, nguồn luật hình sự là hình thức chứa đựng nội dung của pháp luật
* Biểu hiện của nguồn luật hình sự là hình thức chứa đựng nội dung của pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hình thức và nội dung là hai phạm trù luôn đi liền với nhau. Hình thức chỉ có ý nghĩa là “hình thức” khi nó đi liền với nội dung. “Không có hình thức nào tồn tại thuần tuý không chứa đựng nội dung, ngược lại, cũng không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định. Nội dung nào có hình thức đó”. Từ cơ sở phương pháp luận này, có thể khẳng định, nội dung luật hình sự phải được thể hiện trong những hình thức (nguồn luật) nhất định và nguồn luật hình sự là hình thức chứa đựng nội dung, là cái “vỏ” vật chất thể hiện các nội dung cụ thể của luật hình sự.
Về mặt nhận thức, cần phân biệt hình thức bên ngoài, tức là nguồn luật hình sự, với hình thức bên trong (hình thức nội tại) hay hình thức cấu trúc của luật hình sự.
Xét về mặt cấu trúc, ngành luật hình sự được phân thành các chế định luật hình sự (chế định tội phạm, chế định đồng phạm, chế định các giai đoạn phạm tội, chế định hình phạt...). Trong các chế định luật hình sự có các quy phạm pháp luật hình sự. Quy phạm pháp luật hình sự là đơn vị cơ sở có tính độc lập tương đối cấu thành nên ngành luật hình sự. Quan điểm cho rằng “những hình thức nội tại và những hình thức bên ngoài... đều được coi là các nguồn của luật hình sự” là chưa hợp lý. Bởi, những hình thức nội tại (hình thức cấu trúc): ngành luật hình sự - chế định luật hình sự - quy phạm pháp luật hình sự không chứa đựng (thể hiện) nội dung của luật hình sự mà chỉ phản ánh cấu trúc - cơ cấu của nội dung đó. Nếu cho rằng, những hình thức cấu trúc đó chứa đựng cả nội dung của luật hình sự thì nó không còn là “hình thức cấu trúc” của luật hình sự; bản thân nó, trong trường hợp này, đã là “luật hình sự” với sự thống nhất về hai mặt nội dung và hình thức.
Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, hình thức bên ngoài của luật hình sự, hay nguồn luật hình sự, là nhân tố chứa đựng, thể hiện những nội dung sau:
1) Các dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cụ thể;
2) Hình phạt và các chế tài pháp lý hình sự đôì vối những tội phạm đó;
3) Các biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự đốì với người phạm tội;
4) Những trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là tội phạm;
5) Những nội dung khác liên quan đến việc giải quyết vấn để trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
“Nói một cách ngắn gọn, luật hình sự là ngành luật quy định toàn bộ những vấn đề liên quan đến tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt”; những vấn đề “liên quan đến tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt” là nội dung cơ bản của luật hình sự và nguồn luật hình sự có nhiệm vụ phải thể hiện được những nội dung đó.
* Đặc điểm của nguồn luật hình sự với tư các là hình thức chứa đựng nội dung luật hình sự
Với tư cách là hình thức thể hiện, chứa đựng, phản ánh nội dung của luật hình sự, nguồn luật hình sự có những đặc điểm sau đây:
Đặc điểm thứ nhất, do là nhân tố phản ánh nội dung nên nguồn luật hình sự luôn chịu sự chi phối từ phía nội dung luật hình sự; nội dung luật hình sự quy định sự vận động, phát triển nguồn luật hình sự. Nội dung của luật hình sự càng phức tạp, nhà lập pháp càng đi sâu, mở rộng phạm vi sự điều chỉnh của luật hình sự vào các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội thì nguồn của luật hình sự càng đa dạng, phong phú. Trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999, do điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta còn hạn chế, nhà lập pháp hình sự chưa quy định các tội phạm về môi trường, tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, hàng loạt tội phạm mới được đưa vào Bộ luật hình sự như tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điểu lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178), tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (Điều 179), các tội phạm về môi trường (Chương XVII), các tội phạm trong lĩnh vực tin học (Điều 224, 225, 226)... Việc quy định các tội phạm mới này, một mặt, thể hiện sự phát triển về nội dung của luật hình sự, mặt khác, chính sự phát triển về nội dung đó đưa đến sự mở rộng đáng kể nguồn luật hình sự ra các văn bản pháp luật quản lý nhà nước chuyên ngành trong các lĩnh vực nói trên. Quy luật của sự vận động, phát triển nguồn luật hình sự là đi từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Sở dĩ nguồn luật hình sự vận động theo quy luật từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn là vì nó phụ thuộc vào nội dung của luật hình sự, do sự phát triển của nội dung luật hình sự quy định. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam hiện đại (từ năm 1945 đến nay) bắt đầu từ các quy định tản mạn, rời rạc, nội dung đơn giản (trong các sắc lệnh đơn hành) đến các quy định mang tính khái quát cao (thể hiện trong các điều luật quy định tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự) là sự chứng minh bằng thực tiễn cho nhận định này.
Đặc điểm thứ hai, trong mối quan hệ với nội dung luật hình sự, nguồn luật hình sự có tính độc lập tương đối. Tính độc lập tương đối của nguồn luật hình sự (so với nội dung của luật hình sự) thể hiện ở chỗ nguồn luật hình sự không phải là sự phản ánh, thể hiện máy móc nội dung của luật hình sự. Tương ứng với một nội dung cụ thể của luật hình sự có thể có một hoặc nhiều hình thức phản ánh khác nhau, chứa đựng trong nhiều nguồn khác nhau, có nguồn phản ánh trực tiếp nhưng cũng có nguồn phản ánh gián tiếp nội dung của luật hình sự. Cùng một nội dung là hành vi vô ý làm chết người nhưng nhà làm luật lại quy định thành nhiều trường hợp phạm tội khác nhau, ghi nhận trong nhiều điều luật khác nhau (Điều 98, Điều 99, Điều 202, Điểu 208, Điều 212, Điểu 229, v.v. Bộ luật hình sự hiện hành); cùng quy định về một nội dung là hình phạt cải tạo không giam giữ, nhà làm luật đồng thời lại ghi nhận trong nhiều nguồn khác nhau: Bộ luật hình sự hiện hành (Điểu 31) và Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ... Tính độc lập tương đối của nguồn luật hình sự xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của sự phản ánh (pháp luật) - cái khách quan, cũng như từ sự nhận thức, đánh giá, lựa chọn mang tính chủ quan của nhà làm luật. Sự phản ánh trong thế giới khách quan nói chung, sự phản ánh pháp luật nói riêng luôn đa dạng, phong phú. Nếu một hình thức pháp luật không chứa đựng hết, không phản ánh được đầy đủ nội dung của pháp luật thì tất yếu phải có các nguồn pháp luật khác phản ánh, ghi nhận bổ sung. Sự ghi nhận bổ sung này, trong một số trường hợp là sự lựa chọn có chủ định của nhà làm luật để tránh cho một hình thức - nguồn luật hình sự nào đó, nhất là Bộ luật hình sự khỏi sự rườm rà và nặng nề không cần thiết.
Đặc điểm thứ ba, nguồn luật hình sự thống nhất vối nội dung luật hình sự và giữa các nguồn luật hình sự (các hình thức nguồn luật hình sự) luôn có sự thông nhất với nhau. Sự thông nhất giữa nội dung của luật hình sự với hình thức - nguồn luật hình sự thể hiện ỗ chỗ, nội dung nào thì có hình thức đó, nội dung càng rõ ràng, cụ thể thì hình thức càng mang tính xác định và ngược lại. Trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, có một số quy định chưa thật rõ về nội dung, chẳng hạn, Điều 277 quy định khái niệm tội phạm về chức vụ. Đoạn thứ hai của Điều 277 quy định: “Người có chức vụ... là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”. Cần xác định phạm vi những người được coi là có chức vụ trong luật hình sự Việt Nam - chủ thể của các tội phạm về chức vụ như thê nào? Người có chức vụ có bao gồm những người ngoài phạm vi nhà nước và ngoài các doanh nghiệp có phần vốn góp của Nhà nước hay không? Nếu cho rằng, người có chức vụ có thể là những ngưòi làm việc trong khu vực kinh tê tư nhân thì phạm vi những người này cụ thể là những ai và căn cứ vào đâu để xác định? Đây chỉ là một ví dụ vê tính chưa thật cụ thể của một nội dung cụ thể của luật hình sự Việt Nam và chính sự chưa được cụ thể về mặt nội dung này dẫn đến tình trạng chưa được rõ ràng về hình thức - nguồn luật chứa đựng nội dung đó.
Mặt khác, giữa các hình thức - nguồn luật hình sự cũng luôn có sự thống nhất vối nhau. Như đã trình bày ở trên, một nội dung của luật hình sự có thể được phản ánh trong nhiều nguồn luật khác nhau, có nguồn trực tiếp, có nguồn gián tiếp. Tuy nhiên, dù là nguồn trực tiếp hay gián tiếp, thành văn hay không thành văn thì chúng vẫn luôn là một thể thông nhất, không tách rời và có sự bổ sung cho nhau trong việc phản ánh nội dung của luật hình sự. Nghiên cứu luật hình sự mà chỉ dựa vào một nguồn nào đó thì nghiên cứu đó sẽ là phiến diện và không đầy đủ, không thấy hết được các nội dung thực sự của luật hình sự.
Đặc điểm thứ tư, nguồn luật hình sự là hình thức bên ngoài và đồng thời là phương thức tồn tại của luật hình sự, là căn cứ pháp lý của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Trong môì quan hệ giữa nội dung và hình thức, nội dung quy định sự vận động và phát triển của hình thức. Tuy nhiên, nội dung không thể tồn tại nếu không được phản ánh trong những hình thức nhất định. Hình thức luật hình sự (nguồn luật hình sự) là nhân tố phản ánh nội dung luật hình sự nhưng đồng thời, cũng là phương thức tồn tại của nội dung luật hình sự. Người ta chỉ có thể nhận thức được sự tồn tại của luật hình sự qua những hình thức - nguồn nhất định. Với tư cách là phương thức tồn tại của nội dung luật hình sự, nguồn luật hình sự đồng thời là căn cứ pháp lý của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. “Áp dụng pháp luật hình sự là một hoạt động thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự vào các trường hợp cụ thể đối với người đã thực hiện hành vi mà nhà nước coi là tội phạm, mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước và được thực hiện theo một trình tự đặc biệt do pháp luật tô” tụng hình sự quy định”. Áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động đưa quy phạm pháp luật hình sự (nội dung luật hình sự) với tư cách là những mô hình pháp lý giải quyết một tình huống cụ thể của thực tiễn cuộc sông. Thực chất của áp dụng pháp luật hình sự là áp dụng nội dung của luật hình sự. Tuy nhiên, nội dung của luật hình sự phải tồn tại trong các hình thức - nguồn luật hình sự nên khi áp dụng luật hình sự, người áp dụng phải viện dẫn các nguồn luật hình sự đó. Đây là lý do để một sô' nhà khoa học pháp lý cho rằng “về phương diện thực tiễn, người ta quan niệm nguồn pháp luật (hình sự) là những căn cứ pháp lý mà dựa vào đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận dụng để giải quyết các sự việc pháp lý cụ thể”.
2.2. Nguồn luật hình sự là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật về không gian, thời gian, đối tượng áp dụng
Xét trên quan điểm lịch sử cụ thể, luật hình sự trong một giai đoạn lịch sử nhất định luôn được xác định về mặt nội dung. Sự xác định về mặt nội dung của luật hình sự nói ở đây được hiểu theo hai góc độ:
1) Tính rõ ràng, minh bạch trong các nội dung cụ thể của luật hình sự;
2) Tính giới hạn của nội dung luật hình sự trong một phạm vi nhất định.
Nội dung của luật hình sự với ý nghĩa là “ý chí nhà nước của giai cấp thông trị được đề lên thành luật” có những giới hạn về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác động. Nguồn luật hình sự - hình thức phản ánh nội dung luật hình sự - tất yếu mang chức năng phản ánh phạm vi giới hạn luật hình sự về các mặt nêu trên.
3. Đặc điểm của nguồn luật hình sự với tư cách là hình thức xác định giới hạn
Với tư cách là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự, nguồn luật hình sự có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, nguồn luật hình sự ghi nhận phạm vi giới hạn quyền lực của Nhà nước cũng như các cam kết quốc tế của Nhà nước – quốc gia đối với các Nhà nước - quốc gia khác trền thế giới. Phạm vi giới hạn của luật hình sự, như đã trình bày ở trên, được xác định trên ba phương diện là không gian, thời gian và đối tượng chịu tác động. Do hai mặt không gian và đối tượng chịu tác động của luật hình sự có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, đối tượng chịu tác động của luật hình sự không thể tồn tại ở đâu khác ngoài những không gian lãnh thổ nhất định, nên khoa học pháp lý hình sự ghép hai mặt này thành một và gọi chung là phạm vi giới hạn của luật hình sự theo không gian. Phạm vi giới hạn của luật hình sự theo không gian phụ thuộc vào phạm vi quyền lực của Nhà nước trên những vùng lãnh thổ nhất định và đối với người dân cư trú, làm việc trên những vùng lãnh thổ đó. Theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia, phạm vi quyền lực nhà nước, xét về mặt không gian, bao phủ trên phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia của Nhà nước. Khoản 1 Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định: “Bộ luật hình sự được áp dụng đốì với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Theo nguyên tắc “Nhà nước bảo đảm các quyền của cồng dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối vối Nhà nước và xã hội” được ghi nhận tại Điều 51 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung nãm 2001), công dân Việt Nam được Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp ở nước ngoài; do vậy, họ cũng có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam ở cả trong và ngoài nước; “Công dân Việt Nam phạm tội ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này” (Khoản 1 Điểu 6 Bộ luật hình sự hiện hành). Như vậy, quyển lực của Nhà nước - quốc gia được giới hạn bởi phạm vi không gian lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia và bởi phạm vi những người mang quốc tịch của quốc gia đó. Nguồn luật hình sự chính là hình thức phản ánh các giới hạn này trên phương diện pháp lý, dưới dạng các điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự.
Mặt khác, phạm vi giới hạn của luật hình sự còn được xác định bởi các cam kết của Nhà nước - quốc gia với các Nhà nước - quốc gia khác trên thế giới trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của những người phạm tội không mang quốc tịch của quốc gia nước sở tại. Trên lãnh thổ quốc gia nước sở tại, phạm vi áp dụng của luật hình sự quốc gia này bị hạn chế bởi các cam kết quốc tế (thể hiện trong các điểu ước quốc tế hoặc tập quán quốc tể) về ngoại giao và lãnh sự. Khoản 2 Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định: “Đối vối ngưdi nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đôì tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ưóc quốc tê mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Ngược lại, phạm vi áp dụng của luật hình sự cũng có thể được mở rộng trong trường hợp nước sở tại cam kết trừng phạt cả đối vối những hành vi phạm tội của người nước ngoài thực hiện ngoài phạm vi lãnh thổ nước mình trong các điều ước quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế đa phương về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm quốc tế và các Hiệp ước song phương về tương trợ tư pháp giữa các nước hữu quan, về vấn đề này, khoản 2 Điều 6 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định: “Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia”. Nguồn luật hình sự là sự ghi nhận về mặt pháp lý về giới hạn phạm vi (áp dụng) của luật hình sự trên cơ sở các cam kết quốc tế này.
Thứ hai, nguồn luật hình sự tuy mang tính ổn định cao nhưng cũng có những thay đổi nhất định theo thời gian. Tính ổn định của nguồn luật hình sự xuất phát từ nội dung cũng như từ yêu cầu về sự ổn định chung của xã hội; “nói đến pháp luật hình sự, có thể nghĩ rằng, dù xã hội thuộc thời nào cũng vậy, đã có chuyện cướp của, giết người, có chuyện mâu thuẫn, xích mích, gây thương tích, có chuyện chổng đổi, lật đổ, v.v. thì để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, đều phải được xét xử, trừng trị, ngăn ngừa, phòng chống… Vì vậy, khác với các ngành luật khác, pháp luật hình sự phải tương đôi ổn định, ít phải sửa đổi, bổ sung để bảo đảm sự ổn định chung”. Tuy nhiên, ổn định không đồng nhất với trì trệ và bất biến; khi điều kiện kinh tế - xã hội và các mặt khác của đời sống xã hội thay đổi thì luật hình sự cũng phải thay đổi và do đó, nguồn luật hình sự với tư cách là hình thức bên ngoài của luật hình sự cũng phải thay đổi theo. Từ cách tiếp cận lịch sử cụ thể, nguồn luật hình sự là hình thức pháp lý xác định phạm vi giới hạn áp dụng về mặt thời gian của luật hình sự trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể.
Thứ ba, các nguồn khác nhau của luật hình sự có sự phản ánh khác nhau về phạm vi giới hạn của luật hình sự; trong số các nguồn đó, Bộ luật hình sự là nguồn trực tiếp nhất xác định phạm vi giới hạn luật hình sự về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác động, vể mặt hình thức, phạm vi giới hạn của luật hình sự về không gian, thời gian, đối tượng chịu tác động được đồng nhất vối hiệu lực của Bộ luật hình sự.
Từ khái niệm chung về nguồn luật và sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về nguồn luật hình sự Việt Nam như sau: Nguồn luật hình sự Việt Nam là phương thức tồn tại của luật hình sự Việt Nam, là hình thức bên ngoài chứa đựng nội dung, đồng thời là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự Việt Nam về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác dộng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Nguồn của luật hình sự là gì? Đặc điểm của nguồn luật hình sự là gì". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập