- 1. Nguồn của luật hình sự là gì?
- 2. Nguồn luật hình sự từ năm 1945 đến năm 1985
- 2.1. Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1959
- 2.2. Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1959 đến năm 1985
- 3. Những ưu điểm và điểm hạn chế của nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985
- 3.1. Về ưu điểm
- 3.2. Về nhược điểm
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Nguồn của luật hình sự là gì?
Nguồn luật hình sự Việt Nam là phương thức tồn tại của luật hình sự Việt Nam, là hình thức bên ngoài chứa đựng nội dung, đồng thời là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự Việt Nam về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác dộng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
2. Nguồn luật hình sự từ năm 1945 đến năm 1985
Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các điều kiện lịch sử của đất nước trong giai đoạn này. Về mặt khoa học, có thể chia sự phát triển nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 thành hai giai đoạn: từ năm 1945 đến năm 1959, và từ năm 1959 đến năm 1985.
2.1. Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1959
Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "‘Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”. Bản Hiến pháp năm 1946 ra đời có ý nghĩa quan trọng về nhiều phương diện và là nguồn có tính chất định hướng của luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1959.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959, nguồn trực tiếp của luật hình sự Việt Nam trước hết là các văn bản pháp luật được ban hành trong chế độ thuộc địa trước năm 1945. Điều 1 của sắc lệnh số 47/SL ngày 10-10-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quy định: “Cho đến khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này".
Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị; pháp luật của chế độ cũ là công cụ để thực dân, phong kiến đàn áp, bóc lột, khủng bố người dân Việt Nam. Về nguyên tắc, chính quyền dân chủ nhân dân phải xoá bỏ mọi tàn tích của chế độ cũ, trong đó có những tàn tích trong lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, trong tình thê Nhà nước cộng hoà vừa mới được thành lập lại phải đối mặt với thù trong giặc ngoài và muôn vàn khó khan. Kinh nghiệm lập pháp còn non kém, đội ngũ cán bộ chuyên gia pháp luật hầu như không có, việc duy trì áp dụng pháp luật của chế độ cũ là giải pháp hợp lý.
Khác với các loại nguồn luật hình sự khác, nguồn các văn bản pháp luật của chế độ cũ là loại nguồn có điều kiện. Điều 12 sắc lệnh số 47/SL ngày 10-10-1945 quy định cụ thể các điều kiện này là: “Những điều khoản trong luật lệ cũ được tạm giữ lại do sắc luật này, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể Dân chủ Cộng hoà”.
Về phạm vi nguồn luật cũ được áp dụng trong chế độ mối, theo các Điều 8, 9, 10 chương IV sắc lệnh số 47/SL gồm có:
+ Bộ Luật hình An Nam ban bố tại Bắc bộ do Dụ ngày 25-8-1921 và Nghị định của nguyên Toàn quyền Đông Dương ngày 02-12-1921 cùng những Dụ và Nghị định sửa đổi Bộ luật ấy (Điều thứ 8).
+ Bộ Hoàng Việt hình luật ban bố tại Trung bộ do Dụ ngày 01-7-1933 và Nghị định của nguyên Toàn quyền Đông Dương ngày 01-7-1933 cùng những Dụ và Nghị định sửa đổi Bộ luật ấy (Điều thứ 9).
+ Bộ Hình luật Pháp tu chính do sắc lệnh ngày 31-12-1912 cùng những sắc lệnh sửa đổi sắc lệnh ấy (Điều thứ 10).
Điều đáng lưu ý là về giói hạn không gian áp dụng của các bộ luật trên, chế độ mới vẫn duy trì hiệu lực của chúng tương tự gần như trước năm 1945. Tình trạng phân tán pháp luật này đến năm 1959 mối kết thúc qua Chỉ thị số 772-TANDTC ngày 10-7-1959 của Toà án nhân dân tối cao đã nêu trên.
Bên cạnh việc duy trì pháp luật của chế độ cũ như một giải pháp tình thế, chính quyền cách mạng đã khẩn trương xây dựng pháp luật của chế độ mới, đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nước. Đây là nguồn bổ sung quan trọng và ngày càng trở thành nguồn chính của luật hình sự Việt Nam hiện đại. Nguồn luật hình sự chủ yếu tồn tại dưới dạng các sắc lệnh do Chủ tịch nước (đồng thời là Chủ tịch Chính phủ) ban hành. Các sắc lệnh được ban hành trong giai đoạn 1945-1959 có đặc điểm:
- Là các đạo luật đơn hành, thường điều chỉnh những vấn đề cấp thiết, quan trọng đôì vối sự tồn tại và phát triển của cách mạng Việt Nam do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đặt ra.
- Về cơ bản, những sắc lệnh này không đơn thuần là các đạo luật hình sự; nói cách khác, chế tài hình sự được quy định trong các sắc lệnh này chỉ mang ý nghĩa là biện pháp bảo đảm thực hiện những chính sách được ban hành Chính phủ kháng chiến. Chính vì vậy, khi quy định về hình phạt, nhiều sắc lệnh chỉ đề cập một cách chung chung là “nếu vi phạm ... thì sẽ bị truy tô' trước Toà án quân sự”.
- Một số Sắc lệnh, về thực chất, được ban hành nhằm sửa đổi lại các quy định trong luật cũ cho phù hợp với tình hình mới. Chẳng hạn, sắc lệnh số 33 ngày 19-3-1947 quy định tăng mức tiền phạt trong trường hợp phạt tiền là hình phạt áp dụng đôi với bị cáo lên gấp 10 lần so với quy định của “các hình luật ban bố trưốc ngày 19-8-1945” để bảo đảm tính hiệu quả của hình phạt này do sự mất giá của đồng tiền Đông Dương cũ.
Số lượng các Sắc lệnh được ban hành trong giai đoạn 1945-1959 tương đối lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Ngay từ những ngày mới thành lập chính quyền, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà liên tiếp ban hành một loạt các sắc lệnh thành lập hệ thông Toà án quân sự trên toàn quốc. Tuy là những văn bản quy phạm pháp luật thiết lập cơ quan Toà án song nội dung của các sắc lệnh này đã vượt ra ngoài phạm vi của việc tổ chức bộ máy nhà nước thông thường mà vươn tới lĩnh vực nguồn luật hình sự. Theo Điều 2 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946, “Toà án quân sự xử tất cả các người nào phạm một việc gì, sau hay trước ngày 19 tháng 8 dương lịch năm 1945, có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Điều luật này của sắc lệnh số 21/SL mang hai ý nghĩa: vừa quy định thẩm quyển xét xử theo đối tượng của Toà án quân sự - một loại hình toà án đặc biệt ở Việt Nam tồn tại từ năm 1945 đến năm 1950; vừa xác định những hành vi bị coi là tội phạm (hành vi “phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”) và được xét xử bởi toà án này.
Nét đặc sắc của Sắc lệnh số 21/SL thể hiện ỏ chỗ, các hình phạt nói tại Điều 8 Sắc lệnh không chỉ áp dụng đối với hành vi nói tại Điều 2 sắc lệnh nêu trên mà còn đối với cả những tội phạm quy định trong các sắc lệnh khác (ví dụ, tội “tàng trữ và lưu hành các loại giấy bạc Đông Dương” trong sắc lệnh số 180/SL ngày 30-4-1948) mà với các tội phạm xác định trong các sắc lệnh này không được quy định hình phạt kèm theo. Như thế, sắc lệnh số 21/SL là nguồn quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam nói chung, nguồn của pháp luật trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia nói riêng đến năm 1953, thời điểm mà sắc lệnh số 133/SL ra đời, mặc dù trên thực tế, các Toà án quân sự Việt Nam đã kết thúc sứ mạng của nó vào năm 1950.
Ngày 20-01-1953, sắc lệnh số 133/SL ra đời chính thức quy định hệ thống các hành vi xâm phạm đến sự an toàn của Nhà nước bị trừng phạt bởi biện pháp hình sự. Sắc lệnh số 133/SL là văn bản pháp luật đầu tiên quy định một cách hệ thống và khoa học, nhất là vấn đề tội phạm và hình phạt. Có thể nói, Sắc lệnh số 133/SL là thành quả lập pháp, là kết tinh của kinh nghiệm xây dựng pháp luật hình sự của Nhà nước Dân chủ Cộng hoà non trẻ thời bấy giờ. Tuy nhiên, ra đời trong bối cảnh cuộc vận động cải cách ruộng đất được triển khai mỗi lúc một mạnh mẽ, hiệu lực thực tế của Sắc lệnh số 133/SL bị cạnh trạnh bởi Sắc lệnh số 150/SL quy định thành lập Toà án đặc biệt phục vụ cải cách ruộng đất và sắc lệnh số 151/SL thể chế hoá quyền hạn của Toà án đặc biệt trong lĩnh vực luật hình sự. Về mặt nội dung, sắc lệnh số 151/SL có nhiều quy định trùng với quy định của sắc lệnh số 133/SL nhưng với một loại chủ thể đặc biệt là địa chủ Việt gian phản động chống phá công cuộc cải cách ruộng đất. Đến cuối năm 1956, do mục tiêu của cuộc vận động cải cách ruộng đất cơ bản đã đạt được và cũng một phần do những sai lầm trong cuộc vận động này, Toà án nhân dân đặc biệt thành lập theo sắc lệnh số 150/SL đã bị giải thể, sắc lệnh số 133/SL lại trở lại vai trò của nó là cơ sở pháp lý - nguồn (cơ bản) của luật hình sự trong đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an toàn nhà nước cho đến khi văn bản pháp luật mới có hiệu lực cao hơn (Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng) ra đời năm 1967.
Cùng vối Sắc lệnh số 133/SL, Nhà nước ta còn ban hành Sắc lệnh số 267/SL ngày 15-6-1956 “trừng phạt những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân”. Mục đích cơ bản của sắc lệnh số 267/SL là nhằm bảo vệ quan hệ sở hữu nhà nước và sở hữu riêng của công dân bằng biện pháp pháp luật hình sự.
Nguồn luật hình sự trong lĩnh vực bảo vệ an toàn nhà nước, ngoài các sắc lệnh đã nêu còn có các văn bản khác như: sắc lệnh số 146/SL ngày 02-3-1948; sắc lệnh số 95/SL ngày 13-8-1949; sắc lệnh số 128/SL ngày 17-7-1950; Sắc lệnh số 154/SL ngày 17-11-1950; sắc lệnh số 69/SL ngày 10-12-1951... Theo quy định của Sắc lệnh số 69/SL thì: “Ai phạm vào một tội dưới đây sẽ bị truy tố trước Toà án như tội phản quốc: 1) Cố ý tiết lộ hoặc bán bí mật quốc gia cho địch hay là cho tay sai của địch; 2) Lợi dụng bí mật quốc gia để đầu cơ lấy lợi; 3) Dò xét bí mật quốc gia; mua, lấy cắp những tài liệu bí mật quốc giá” (Điều 4).
Ngoài lĩnh vực bảo đảm sự an toàn nhà nước, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội cũng được Nhà nước quan tâm chú ý ban hành những văn bản pháp luật thích hợp. Trong các lĩnh vực này, kinh tế là lĩnh vực có số lượng các văn bản (Sắc lệnh) nhiều nhất. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt sau nạn đói năm 1945, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh ngày 09-10-1945. Việc sản xuất, tàng trữ, mua bán rượu làm từ ngũ cốc cũng bị trừng phạt (Sắc lệnh số 57/SL ngày 10-11-1945). Bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp dựa trên sức kéo của gia súc, các hành vi giết thịt trâu bò bị hạn chế (theo sắc lệnh số 88/SL ngày 30-5-1946) và sau đó bị cấm hẳn (theo Sắc lệnh sô' 144 ngày 02-3-1948). Điều 1 sắc lệnh sô 144/SL quy định rõ: “Trong thời kỳ kháng chiến, và tới khi có lệnh mới, cấm hẳn việc giết trâu bò trong toàn cõi Việt Nam”. Các công trình thủy nông cũng được bảo vệ bởi biện pháp hình sự. Theo Điều 1 sắc lệnh số 26/SL ngày 25-02-1946 về trừng trị các tội phá hoại công sản, thì người nào có hành vi cố ý phá hoại một phần hay toàn bộ cầu công, kênh, sông đào, vận hà, nông giang... sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm và có thể bị xử phạt tử hình, sắc lệnh số 68/SL ngày 18-6-1949 liệt kê cụ thể các công trình thuỷ nông và quy định cụ thể hơn mức hình phạt áp dụng cho loại tội này (Điều 8 Sắc lệnh số 68/SL).
Trước năm 1945, chế độ tiền tệ của Việt Nam tương đối phức tạp và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chính sách chia để trị của thực dân Pháp. Trên toàn Đông Dương, Pháp cho lưu hành đồng bạc Đông Dương nhưng ở Trung kỳ vẫn cho lưu hành tiền “đồng” của nhà Nguyễn. Sau khi chính quyền cách mạng thành lập, Nhà nước ta phát hành tiền của chế độ mới (“đồng bạc cụ Hồ”) làm đồng bản tệ. Để bảo vệ cho việc lưu hành đồng tiền này, các hành vi cố ý tàng trữ, lưu hành tiền cũ, từ chối sử dụng, làm giả hay phá hoại tiền mới bị coi là tội phạm và bị trừng phạt theo sắc lệnh số 48/SL ngày 15-5-1947, sắc lệnh số 147/SL ngày 02-3-1948, Sắc lệnh số 167/SL ngày 14-4-1984, sắc lệnh số 180/SL ngày 30-4-1948 và sắc lệnh số 180/SL ngày 20-12-1950.
Các hành vi vi phạm thể lệ mậu dịch, đầu cơ hàng hoá cũng bị trừng phạt trong nhiều sắc lệnh ban hành thời kỳ này. Các sắc lệnh ban hành trong những năm đầu của chính quyền khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang chuẩn bị nổ ra thường tập trung xử phạt hành vi đầu cơ thóc gạo (Chẳng hạn, sắc lệnh số 07 ngày 05-9- 1945). Những năm tiếp sau, nội hàm khái niệm “tội đầu cơ” được mở rộng dần ra các loại mặt hàng khác. Các Sắc lệnh trong lĩnh vực này, ngoài sắc lệnh số 07 nêu trên, còn bao gồm: sắc lệnh số 222/SL ngày 20-8-1948, Sắc lệnh số 257/SL ngày 19-11-1948, sắc lệnh số 26/SL ngày 25-4-1949, sắc lệnh số 109/SL ngày 23-9-1949, Sắc lệnh số 122/SL ngày 21-10-1949.
Điểm đáng chú ý trong hệ thống nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1959 là sự xuất hiện và phát triển của hệ thống án lệ mới. Sự tồn tại của các án lệ mới là điều không thể phủ nhận và dấu vết còn lại của nó được phản ánh khá rõ nét trong Thông tư 442/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19-01-1955. Trong Thông tư 442/TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã khẳng định rằng, từ ngày chính quyền cách mạng được thành lập, Toà án cách mạng Việt Nam đã căn cứ vào các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành, đồng thời vận dụng sáng tạo các quy định pháp luật của chế độ cũ để đúc kết kinh nghiệm xét xử và “kinh nghiệm xét xử về một số loại phạm pháp đã trở thành án lệ”. Cũng theo Thông tư nêu trên, các án lệ này mặc dù đã “đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự an ninh” song “còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng”. Sự thừa nhận của một văn bản quan trọng trong bộ máy hành pháp Việt Nam thời điểm đó cho thấy, án lệ hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1959 không phải là một hiện tượng có tính chất cá biệt mà đã phổ biến ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, do tính chất tự phát nên các án lệ này chưa thống nhất và chưa có tính bắt buộc chung như một loại nguồn chính thức của pháp luật. Để khắc phục nhược điểm đã nêu, Thông tư 442/TTg đặt ra quy định:
“1. Trộm cắp: phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Cướp đường hay trộm có tổ chức, có bạo lực, có dùng vũ khí để dọa nạt thì phạt tù từ 3 đến 10 năm. Cướp của mà có giết người có thể phạt đến tử hình.
2.Lừa gạt, bội tín: phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm.
3.Đánh bị thương: phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. Đánh bị thương có tổ chức hoặc gây thành cố tật hay chết người có thể phạt đến 20 năm. Cố ý giết người: phạt tù từ 5 đến 20 năm; nếu có trường hợp giảm nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm; giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình.
4.Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bị phạt tù đến 10 năm”.
Đánh giá về tính chất quy định nói trên, cần thiết phải tính đến yếu tố thẩm quyền của người ban hành quy định này và các quy định khác cùng lĩnh vực ban hành trước đó. Có thể thấy rằng, theo tinh thần Hiến pháp năm 1946, người đứng đầu bộ máy hành chính và Chính phủ không phải là Thủ tướng Chính phủ mà là Chủ tịch nước (Chủ tịch Chính phủ). Từ năm 1945 đến năm 1955, các quy định về tội phạm và hình phạt đều do Chủ tịch nước ban hành dưới dạng các sắc lệnh. Trong thực tiễn, Thủ tướng Chính phủ không thực hiện quyền này. Do vậy, sự xuất hiện của Thông tư 442/TTg đặt ra một vấn đề là văn bản này thuộc loại nguồn nào, luật thành văn hay án lệ? Theo quan điểm của người viết, Thông tư 442/TTg nghiêng về loại nguồn án lệ nhiều hơn bởi hai lẽ: 1) Năm 1955, hệ thống Toà án vẫn còn đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo của Chính phủ; 2) Như bản thân Thông tư 442/TTg đã nêu rõ, quy định về tội phạm và hình phạt nêu trên là nhằm ‘"thông nhất những án lệ trong các quy định chung sau đây để hướng dẫn các Toà án trừng trị một số tội phạm thông thường”.
2.2. Nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1959 đến năm 1985
Tiếp sau sự kiện chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc được giải phóng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam có những thay đổi cơ bản cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng dân tộc miền Nam, tiến tới thông nhất đất nước vào Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất cả nước vào năm 1976 và cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để ghi nhận những quan hệ xã hội mới đang tồn tại, đồng thời định hướng cho sự phát triển tiếp theo của đất nước, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp 1959. Giá trị của Hiến pháp năm 1959 đối với sự phát triển nguồn luật hình sự Việt Nam thể hiện ở chỗ:
+ Hiến pháp củng cố một bước hệ thống các cơ quan nhà nưóc nói chung, hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng; tăng cường vai trò của lập pháp, tách tư pháp ra khỏi hành chính; thiết lập chính thức trên thực tế Toà án nhân dân tối cao - Đây là cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho việc phát triển nguồn luật hình sự;
+ Đặt nền tảng cho các quan hệ xã hội được bảo vệ bằng pháp luật trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, qua đó định hưống cho việc thiết lập các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ cho các quan hệ xã hội đó. Do các quan hệ xã hội mà Hiến pháp năm 1959 ghi nhận đồng thời cũng là quan hệ xã hội được bảo vệ của luật hình sự nên Hiến pháp năm 1959 là nguồn của luật hình sự giai đoạn 1959 - 1985.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, nguồn luật hình sự giai đoạn 1959-1985 đã có bước phát triển mới với những đặc điểm mới khác với giai đoạn trước. Đặc điểm đầu tiên - đó là, kể từ năm 1959 trở đi, trong hệ thống nguồn luật hình sự Việt Nam không còn có các văn bản pháp luật ban hành dưới chế độ cũ. Khởi đầu sự kiện này là ngày 30-6-1955, Bộ Tư pháp có Thông tư số 19- VHH/HS gửi các Toà án yêu cầu “không nên áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến nữa”. Tuy nhiên, trên thực tế, văn bản này không được các Toà án chấp hành một cách triệt để, gây nên tình trạng “đường lối xử lý đâm ra sai lệch, không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ. Do đó đã gây tác hại trong công tác; không kể những ảnh hưởng không tốt về lập trường tư tưởng”. Để khắc phục những tồn tại đã nêu, ngày 10-7-1959, Toà án nhân dân tôì cao đã ra Chỉ thị số 772-TATC khẳng định dứt khoát “hoàn toàn không thể sử dụng điều luật của đế quốc và phong kiến được nữa, dù là với tinh thần mới”. Đây là một trong những đặc điểm có tính nổi bật, ảnh hưỏng sâu sắc đến sự phát triển nguồn luật hình sự Việt Nam trong các giai đoạn tiếp sau.
Điểm đáng chú ý thứ hai là, nếu như trong giai đoạn trước, sắc lệnh là hình thức văn bản pháp luật hình sự phổ biến thì đến giai đoạn 1959-1985, các Pháp lệnh và Sắc luật lại giữ vai trò quan trọng hơn trong việc điểu chỉnh quan hệ pháp luật hình sự. Hiện tượng này không đơn giản là việc thay đổi tên gọi của các đạo luật hình sự mà đằng sau nó là sự chuyển dịch các nhánh quyền lực nhà nước. Trong giai đoạn 1959-1985, vai trò của cơ quan lập pháp được tăng cường và bước đầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà các Hiến pháp giao cho. Xét từ phương diện nguồn luật hình sự, các Pháp lệnh và sắc luật với tư cách là sản phẩm của hoạt động lập pháp, quy định một cách hệ thống và đầy đủ hơn (so với Sắc lệnh) vấn đề tội phạm, hình phạt và những vấn đề khác liên quan đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Có thể kể đến các Pháp lệnh và sắc luật quan trọng được ban hành trong giai đoạn này là: Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30-10- 1967, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21-10-1970, sắc luật số 03-SL/76 quy định về tội phạm và hình phạt ngày 15-3-1976, Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ năm 1981, Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982.
Cùng với sự phát triển của nguồn luật thành văn nêu trên, các loại nguồn khác của luật hình sự, trên thực tế, cũng đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn 1959-1985. Sự phát triển của các loại nguồn này gắn liền với sự ra đời của một cơ quan mới trong bộ máy nhà nước là Toà án nhân dân tối cao. Thực chất, ngay từ năm 1946, bản Hiến pháp Việt Nam đầu tiên trong lịch sử đã quy định thành lập Toà án tối cao như là một bộ phận quan trọng cấu thành bộ máy nhà nước. Theo Điều thứ 63. Hiến pháp năm 1946, hệ thống cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có ba cấp, trong đó Toà án tối cao là cấp xét xử cao nhất. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật, kể cả Hiến pháp, khi đi vào thực tế cuộc sống sẽ phải chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Các yếu tố đó, trong trường hợp này là tình trạng chiến tranh của đất nước. Đến tháng 4 năm 1958, khi hoà bình đã được lập lại ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa được 3 năm, Quốc hội mới quyết định “thành lập Toà án nhăn dân tối cao và Viện công tô' nhân dân Trung ương, tách hệ thống Toà án nhân dân và Viện Công tố khỏi Bộ Tư pháp” Việc thành lập Toà án nhân dân tối cao có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của pháp luật Việt Nam bởi các bản tổng kết hàng năm, tổng kết chuyên đề của Toà án nhân dân tối cao trong suốt những năm 60 - 70 thế kỷ XX đã trở thành nguồn bổ sung quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam, là cơ sở thực tiễn để Nhà nước ta tiến hành pháp điển hoá các văn bản pháp luật hình sự sau này. Các bản tổng kết thực tiễn xét xử quan trọng nhất của Toà án nhân dân tôì cao có thể kể đến là: bản báo cáo giải thích của Toà án nhân dân tối cao về Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng tại Hội nghị tổng kết công tác năm 1967, bản Tổng kết và Hướng dẫn sô 329-HS2 ngày 11-2-1967 của Toà án nhân dân tối cao về đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục, bản Sơ kết kinh nghiệm số 949-NCPL ngày 25-11-1968 về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tái nạn trong tình hình mới, bản Tổng kết sô' 452-HS2 ngày 10-8- 1970 về thực tiễn xét xử loại tội giết người, V.V.. Trong tư duy pháp lý của những người soạn thảo thì các văn bản nói trên là các bản hưông dẫn nghiệp vụ trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, do tình trạng thiếu pháp luật nên thực chất những bản tổng kết kinh nghiệm xét xử này là loại nguồn chính của luật hình sự Việt Nam rất nhiều năm sau đó và chúng chỉ thực sự chấm dứt hiệu lực khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời.
Trong giai đoạn 1959-1985, khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã hình thành và bước đầu là nguồn có tính chất bổ sung của luật hình sự Việt Nam. Tiền đề cho sự ra đời của nền khoa học pháp lý Việt Nam là việc Nhà nước ta chính thức thành lập các cơ quan chuyên môn nghiên cứu và các trường đào tạo luật của chế độ môi. Từ các cơ quan nghiên cứu và các cơ sở đào tạo luật này, nhiều tập san, tạp chí pháp lý đã ra đời như tập Nghiên cứu Nhà nước và pháp quyền do Tổ luật học trong uỷ ban Khoa học Nhà nước xuất bản, tạp chí Luật học của Viện Luật học, uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, tạp chí Pháp chế xã hội chủ nghĩa của Bộ Tư pháp, Tạp chí Toà án nhân dân của Toà án nhân dân tối cao, tạp chí Luật học của Đại học Luật Hà Nội, .... Đây là diễn đàn khoa học để các luật gia, các nhà nghiên cứu và những người làm công tác xét xử trao đổi các vấn đề học thuật và kinh nghiệm công tác. Những bài viết đăng trong các tập san, tạp chí này đã đặt nền móng vưng chắc cho sự phát triển tiếp theo của khoa học pháp lý hình sự xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Những ưu điểm và điểm hạn chế của nguồn luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985
3.1. Về ưu điểm
Ưu điểm thứ nhất phải kể đến tính chất của nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985. Nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 là nguồn của luật hình sự cách mạng, dân chủ, nhân đạo và nhân dân. Từ năm 1884 cho đến trước Tổng khởi nghĩa ngày 19-8-1945, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người dân Việt Nam ở địa vị của người nô lệ mất nưốc, bị ngược đãi, bóc lột, đè nén và khủng bô' bằng bạo lực và pháp luật của chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám thành công đã đem lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 trở đi là pháp luật cách mạng, là ý chí của nhân dân lao động Việt Nam đề lên thành luật để bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Nguồn luật hình sự từ năm 1945 trở đi là hình thức thể hiện, đồng thời, cũng là phương thức tồn tại cơ bản của pháp luật hình sự cách mạng Việt Nam. Nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 phản ánh tinh thần tự do, dân chủ, nhân đạo là những thành quả mà nhân dân Việt Nam phải đấu tranh và hy sinh xương máu để sáng tạo ra, duy trì và phát triển trong hoàn cảnh mối của đất nước. So với nguồn luật hình sự các giai đoạn trưốc, nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 có nhiều tiến bộ vượt bậc cả vể mặt chất và mặt lượng.
Ưu điểm thứ hai của nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 thể hiện ỏ tính tự thân phát triển mà ít chịu sự tác động của các yếu tố ngoại lai. Trong giai đoạn lịch sử trưởc năm 1945, nguồn luật hình sự Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là tư duy và thực tiễn pháp lý Trung Hoa phong kiến, sau đó là tư duy và thực tiễn pháp lý của thực dân Pháp. Ảnh hưởng của pháp luật nưóc ngoài có thể không phải hoàn toàn là một việc xấu. Tuy nhiên, vấn đê' là ồ chỗ, những ảnh hưởng đó phải kết nối được vối truyền thống Việt Nam, làm giàu thêm cho tư duy pháp lý Việt Nam và phát triển được hệ thống nguồn luật hình sự Việt Nam. Điều này trên thực tế đã không đạt được đối vói nguồn luật hình sự Việt Nam trưốc năm 1945, nhất là trong thòi kỳ Pháp thuộc.
Nguồn luật hình sự Việt Nam của chế độ mối đã thoát ly được những ảnh hưởng tiêu cực của pháp luật thực dân phong kiến, phát triển một cách độc lập trên cơ sở thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của Việt Nam. Vối sự phát triển mạnh mẽ mang tính nội tại này, nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 không xa rời mà luôn gắn bó với thực tiễn, là hình thức pháp lý phản ánh sinh động thực tiễn pháp luật Việt Nam.
Ưu điểm thứ ba của nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 thể hiện ở tính đa dạng các loại hình nguồn. Mặc dù còn ở những dạng thức sơ khai, song nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn này phát triển tương đôì đa dạng, từ nguồn luật thành văn (các sắc lệnh, pháp lệnh, thông tư), án lệ và các nguyên tắc chung được rút ra từ khoa học pháp lý. Điều đáng nói ở đây là, các loại nguồn này luôn trong trạng thái vận động, phát triển theo hướng ngày càng chính xác, đầy đủ và hoàn thiện hơn.
3.2. Về nhược điểm
Do đang trong quá trình hình thành lại chịu những điều kiện khách quan không thuận lợi (hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những khó khăn về kinh tế, sự cứng nhắc, giáo điều trong tư duy về pháp luật xã hội chủ nghĩa), nguồn luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1985 không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Những hạn chế đó chủ yếu được thể hiện trên hai điểm:
Một là, tình trạng chồng chéo, lẻ tẻ, rời rạc, thiếu sự thống nhất của hệ thống nguồn luật;
Hai là, việc duy trì và phát triển nguyên tắc tương tự trong lĩnh vực luật hình sự gây nên tình trạng không thống nhất, tuỳ tiện của hoạt động áp dụng pháp luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Nguồn luật hình sự thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1985 (có đánh giá ưu điểm và nhược điểm". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập